Người giữ lửa của Nhà Búp
- Thứ bảy - 22/08/2026 12:38
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này

Người giữ lửa của Nhà Búp
(Đỗ Minh Huệ)
Tôi với Trần Huyền Tâm cùng trang lứa, cùng sinh ra trên một miền quê lúa, cùng có duyên gặp gỡ nhau tại Hội Văn học Nghệ thuật Thái Bình cách đây gần 50 năm - và bây giờ - chúng tôi vẫn là những người thân thiết trong gia đình Nhà Búp. Chị để lại trong tôi nhiều ấn tượng khó quên.
Ngay từ ngày còn nhỏ, học ở Hội Văn học Nghệ thuật Thái Bình, tôi đã rất ấn tượng về chị, một người chị rất duyên, sôi nổi, hồn nhiên, vô tư, hay cười nói nhưng rất chững chạc. Ngày chia tay nhau, mỗi người trở về miền quê yêu dấu của mình, chúng tôi viết lưu bút cho nhau, viết nhiều lắm. Chị cũng viết cho tôi, trong bài viết của chị có một câu - chắc chị không nhớ nữa - nhưng tôi thích và nhớ đến tận bây giờ.
Sau gần 50 năm gặp lại, tôi thấy chị vẫn như xưa, vẫn hồn nhiên, hay cười, hay nói, vẫn chững chạc và hay lo toan cho Nhà Búp của chúng tôi. Đặc biệt, tôi thấy chị viết khỏe và viết giỏi. Trong thơ chị, tôi tìm thấy sự đồng cảm thật nhiều. Chị làm thơ để trang trải nỗi niềm của chị mà tôi thấy như chị đang nói hộ lòng tôi.
Tôi ấn tượng về chị còn vì phong cách sống. Trong công tác, chị ở cương vị cao, nhưng chị không phô trương, không hoa mỹ mà ở chị, luôn toát lên vẻ điềm đạm, giản dị, sự chân thành. Và, chị cũng luôn giữ được nét hồn nhiên, vui vẻ, thông minh, hóm hỉnh mà sâu sắc. Chị là tổng hòa về tính cách mà ít người có được. Chị sống hướng thiện và buông bỏ. Tất cả điều đó được thể hiện trong những trang viết phong phú và cảm xúc đa chiều của chị.
Đọc “Giọt nắng vô thường” tôi thấy chị viết rất phong phú ở đề tài, thể thơ và cảm xúc. Trong thơ chị, tôi cảm nhận được cảm xúc luôn chân thành, mộc mạc nhưng sâu sắc và lắng đọng. Vui thì vui như mở hội, nhưng lắng thì cũng lắng rất sâu. Tôi tin rằng, ai đọc “Giọt nắng vô thường” cũng sẽ thấy mình ở trong đó. Tôi cũng thế. Chỉ trong một cuốn “Giọt nắng vô thường”, tôi đã tìm thấy nhiều sự đồng cảm ở chị. Tôi thán phục tài làm thơ của chị, bởi ngay từ khi 15 tuổi chị đã có bài thơ “Bài ca đất” giàu chất suy ngẫm, già dặn và sâu sắc đến thế! Có những điều ta cứ nghĩ là hiển nhiên như thế, nhưng chị lại có được những suy tư rất sâu sa:
“Cái đêm con ra đời
Mẹ cắt nhau chôn vào đất
Có phải mẹ đã gửi tình yêu chân thật
Của con vào đất đai?”
Và những suy nghĩ rất chân thực nhưng đầy triết lý:
“Chập chững trong đời bước một, bước hai
Đất theo Mẹ đưa con vào lớp học
Con đường làng lầy trơn sau cơn mưa trầy trật
Đất đỡ con sau những bước trượt chân”
Trong bài “Hoa sữa ngày đông xa” của chị, tôi lại tìm thầy mùi hoa sữa “nồng nàn” đã ám ảnh hồn tôi:
“Đâu phải bây giờ cô gái ấy mới yêu hoa
Cành hoa sữa nhỏ xinh nồng nàn trên phố
Đâu phải tự nhiên cô bỗng nhớ
Kỷ niệm những ngày qua”
Tôi và chị cùng cảnh ngộ là con liệt sĩ, đều phải vắng cha từ nhỏ. Vì thế, khi đọc bài “Đợi chờ” mà chị viết tặng mẹ, tôi thấy lòng quặn thắt, nước mắt tuôn rơi:
“Đợi anh, em còn đêm thôi
Ngoài kia, sương đầm mái lá
Giọt sương lăn dài trên má
Giọt sương khắc khoải hao gầy”
Và có lẽ, tôi có thể hiểu được cùng chị nỗi xót xa cùng nỗi niềm trăn trở:
“Mai này trong phút bình yên
Có ai, còn ai biết được
Những người mòn đêm chờ đợi
Những người giấc ngủ thiếu đôi”
Còn trong bài thơ “Về thăm mẹ”, tôi tìm thấy nỗi tái tê của mình trong chị:
“Con thắp nhang trong nỗi tái tê
Mẹ ở đâu giữa mênh mông hư ảo
Bông lúa vàng, cánh cò thơm thảo
Nắng xa rồi, mưa có bớt vô tư…”
Tôi cũng cảm được trong từng câu, từng chữ tình mẫu tử uyên sâu của người con nặng lòng hiếu thảo, day dứt khôn nguôi khi phải xa quê, xa mẹ:
“Tạm biệt mẹ yêu, con quay lại Hà thành
Nắm đất nhỏ khép lại đời sương gió
Chốn đồng quê hoa mẫu đơn màu đỏ
Vẫn chắt nắng, gạn mưa, ươm sắc đợi con về”.
Và, tôi thích cách nói của chị, rất chân thật nhưng cũng rất thơ trong bài thơ “Lời nào cho lá diêu bông”:
“Thương nhau… Sao không nói rằng thương
Để đợi chờ được trọn tình vẹn nghĩa
Người ngẩn ngơ, thương thầm, lặng lẽ
Người mong chờ cái lá hư không”
Ở bài thơ “Có ai hẹn gì với tháng Ba không” chị nhắc đến nhiều sắc hoa “đặc sản” mà chỉ tháng Ba mới có, “cứ bời bời nỗi nhớ”, sắc hoa nào cũng lay động con tim:
“Hương nồng nàn và sắc rất kiêu sa
Hoa bưởi trong vườn, hoa ban đầu ngõ
Chùm mộc miên thắp những vầng lửa đỏ
Một trời xoan đơm sắc tím thung dung”
Có lẽ tháng Ba “cứ bời bời nỗi nhớ”, nên có ai còn vấn vương, nặng lòng day dứt trong “Trải lòng với tháng Ba”:
“Cải về trời, răm đắng đót thinh không
Đêm dỗi hờn khép bờ mi không nói
Tháng Ba đa tình… Tháng Ba lạc lối…
Đã nhận ra mình, sao còn mãi ngu ngơ?”
Đọc bài thơ “Khi tuổi thơ qua đi”, tôi cứ nghĩ nhân vật “Em” trong bài thơ là chị. Nhưng khi đọc tâm sự của chị về “lai lịch” của bài thơ, tôi mới thấy chị tài thật, chỉ nhìn ánh mắt của người bắt đầu “đi qua tuổi thơ” mà chị “xuất thần” được bài thơ cho bao người con gái bước vào mối tình đầu vừa ngây thơ, vừa trong sáng, vừa háo hức.
Trong tập thơ “Giọt nắng vô thường”, chị nhắc đến hầu như các tháng trong năm, tháng nào cũng đẹp, tháng nào cùng ăm ắp tình yêu.
Tôi đã đọc hết tập thơ, nhưng không nhắc đến hết được hàng trăm bài thơ của chị, tôi xin được mượn lời tựa của thầy Kim Chuông viết cho tập thơ: “Ở hàng trăm bài thơ trong “Giọt nắng vô thường”, thơ Trần Huyền Tâm đẹp về thi liệu. Đẹp về ngôn thi, hình thi và tâm thi nữa. Thơ Tâm tinh tế trong cảm xúc. Bay bổng, thi vị trong dáng vẻ tâm hồn” để bày tỏ lòng trân trọng và thán phục người học trò xuất sắc của thầy Kim Chuông, người giữ lửa và truyền lửa cho Nhà Búp của chúng tôi, người mà tôi ấn tượng nhiều nhất!
Thái Bình, 20/6/2026