Một hồn thơ lai láng sa hồng
- Thứ hai - 31/08/2026 11:02
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này

Một hồn thơ lai láng sa hồng
(Nhà thơ Trần Huyền Tâm)
Tôi mượn một ý thơ của nhà thơ Nguyễn Linh Khiếu làm tiêu đề cho bài viết của mình về tác phẩm mới của Đỗ Minh Huệ. Bởi, khi cầm trên tay tập bản thảo “Khoảng xanh còn mãi” của Huệ, tôi như bị cuốn ngay vào vòng xoáy ngược của thời gian, trở về miền ký ức tuổi thơ bên khúc sông Hồng lai láng phù sa, nơi buổi đầu chúng tôi gặp nhau tại lớp bồi dưỡng sáng tác văn thơ thiếu nhi do Hội Văn nghệ Thái Bình tổ chức năm 1980. Huệ và tôi có nhiều điểm tương đồng: cùng sinh ra và lớn lên ở vùng quê lúa Thái Bình, cùng cảnh là con liệt sĩ, cùng có sẵn trong hồn một ngọn lửa đam mê về văn chương nghệ thuật, và cùng được các thầy văn chương khơi nguồn nâng niu, dưỡng bồi khi là các môn sinh của vườn ươm văn chương của Hội. Do tôi học trước một năm nên Huệ thường gọi tôi là chị. Mãi sau này, khi gặp lại, biết tôi cùng trang lứa, Huệ đã chủ động nói: Em gọi bác như thế quen rồi, nên mình cứ giữ nguyên như lúc ban đầu bác nhé. Mà bác còn nhớ lúc chúng ta chia tay tại Trại viết Hè 1980 bác đã viết cho em những gì không? Tôi vờ không nhớ, để rồi rất thích thú và xúc động khi nghe Huệ đọc cả một đoạn dài về dòng lưu bút mà tôi đã viết cho Huệ ngày đó. Tôi không nghĩ là những dòng lưu bút của tôi lại gây ấn tượng mạnh với Huệ đến thế. Tôi vẫn nhớ cái buổi chiều hè hôm ấy, ở buổi học cuối cùng tại trại viết của Hội năm 1980, chúng tôi đứa nào đứa nấy đều ngẩn ngơ, luyến tiếc, ngồi bên nhau nắn nót viết lưu bút trên cuốn vở caro có những trang giấy màu vàng bợt. Có thể Huệ không hiểu vì sao dòng lưu bút của tôi cho Huệ lại có câu tôi thích ngắm Huệ trong ráng chiều tía đỏ. Lúc đó, khi nắng đã nhạt, cái nực nội bức bối của buổi trưa hè đã tan trong ánh tà dịu nhẹ và hương sắc mát lành của đọn gió thanh trong đang dâng lên. Cô bé Huệ, ở tuổi 15, đang ngồi viết lưu bút cho các bạn trong lớp, cặp mắt to đen và mái tóc dài toát lên thần thái của vẻ đẹp dịu lành, chân chất, rất nữ tính, khiến cho cảnh chiều thêm phần thanh mát và thơ mộng. Sau này, vẻ mộc mạc chân tình của cô bé 15 tuổi ấy đã nương theo con chữ đi vào thơ tôi. Bài “Phác thảo mùa xuân” là tôi ngẫu hứng viết khi nhớ về hình ảnh của Huệ trong ráng chiều hôm ấy.
Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Thái Bình đã cho chúng tôi cơ duyên gặp gỡ, biết viết văn làm thơ từ thuở lên 10. Và nhờ công lao vun đắp dưỡng bồi của các thầy văn chương ngày ấy nên tuy thời gian học ở Hội rất ngắn ngủi nhưng chúng tôi vẫn đam mê viết, như thể “sáng tác” là một phần không thể thiếu trong tâm hồn và cuộc đời mình. Những tác phẩm xinh xinh của các “Nhà thơ, Nhà văn nhí” chúng tôi đã ra đời, được gửi đăng ở một số tờ báo, tạp chí trung ương và địa phương. Riêng tôi, ở tuổi 15, cũng đã tập tọe viết được 3 trường ca và khoảng hơn 100 bài thơ. Huệ cũng là một trong những cây bút viết khỏe nhất nhì lớp và có bài đoạt giải… Nhưng rồi sau này, khi mỗi đứa một phương, đối mặt với bao khó khăn của cuộc sống thường nhật, thì những bài viết thuở thiếu thời của chúng tôi cũng dần bị lãng quên (hay nói một cách văn vẻ như ai đó là: được xếp vào một góc rất đẹp trong ký ức tuổi thơ).
Thấm thoắt 35 năm trôi qua, tháng 8 năm 2015, khi gặp lại Huệ trong buổi tìm về của Nhóm Búp trên cành tại khách sạn White Palace Thái Bình, tôi mới biết Huệ hiện làm nghề giáo, lại còn là Hiệu trưởng của một trường tiểu học và trung học cơ sở có tiếng ở Thái Bình. Trước muôn trạng vạn hình của cuộc sống thường nhật, tôi thấy vui và cảm phục vì Huệ vẫn nuôi dưỡng tình yêu với văn chương nghệ thuật, vẫn viết đều, với số lượng không nhiều nhưng cũng đủ để trải lòng mình cho những xúc cảm, chênh chao. Năm nay, nhân dịp kỷ niệm Nửa thế kỷ Búp trên cành, Huệ cho “ra mắt” cuốn sách “Khoảng xanh còn mãi” nhằm tri ân các thầy văn chương đã rèn giũa nuôi dưỡng tâm hồn thơ văn của mình. Tôi là người có vinh hạnh được cùng Búp Nguyễn Nga và nhóm thông tin tư liệu Nhà Búp giúp Huệ tìm lại những bài viết từ thuở ấu thơ. Và trong mối duyên sự này, tôi còn được Huệ tin yêu cho làm cuốn sách, được cùng Huệ sẻ chia nỗi niềm của một người con thiếu vắng bóng cha từ thuở ấu thơ và cả nỗi đau khi chứng kiến cảnh mẹ mình sớm một đời đơn chiếc, một thân bươn chải, gánh gồng những mảnh đời con thơ trong gian khổ, đói nghèo…
“Khoảng xanh còn mãi” là cuốn sách dễ đọc, dễ hiểu, bởi nó thuần khiết bình dị như con người của tác giả. Nó mịn màng như dòng phù sa, chỉ biết vỗ về thấm loang, chỉ biết vô tư chảy trôi mà chẳng để ý việc mình đã cõng bao nhiêu hạt sa hồng đắp bồi, làm nên hương sắc cho những cánh đồng, cánh bãi ngô, đay, lúa, cói xanh non… Ở đó, không có dòng văn, câu thơ nào gào thét hay gằn hắt. Không có câu chữ nào đảo điên, mộng mị, đao to búa lớn. Chỉ thấy nỗi niềm đau đáu của một con tim yêu thương đang ngân vọng trước nhu cầu được tỏ bày, sẻ chia, nấu nung, cống hiến. Chỉ thấy tiếng lòng tri ân của một người con hiếu thảo đối với gia tộc, đối với bạn bầu, thôn xóm. Chỉ thấy những câu gan ruột bật lên từ sâu thẳm hồn mình, khi thì ăm ắp nhớ thương, khi thì dịu lành san sẻ. Khi thì là nỗi niềm về người cha hy sinh ngoài mặt trận của một người con chưa một lần biết mặt cha: “Có một lần, con mơ được gặp cha/ Cha ngồi bên dải núi cao cùng rất nhiều chiến sĩ/ Con đến bên, cha nhìn con lặng lẽ”/… “Cũng có lần, con gặp cha đang hành quân/ Ba-lô của cha dắt đầy lá ngụy trang xanh mướt/ Cha giơ tay tạm biệt/ - Cha đi để giữ lấy hòa bình”... “Lại có lần, gặp cha, con hỏi thật nhanh/ - Cha ơi, cha đang ở đâu để con đón cha về quê mẹ/ Cha mỉm cười, nói khẽ/ - Đất nước đã yên bình, đâu cũng là quê”/… “Nước mắt lăn trên má con nóng hổi/ Khi “Cha vẫn còn đồng đội/ Nghĩa là cha chưa về…/ Con khóc òa, và chợt tỉnh giấc mơ …” (Những giấc mơ)... “Nhưng con nào đâu biết/ Giờ cha đang ở đâu?/… “Mẹ chờ cha mỏi mòn, trăng khuyết./ Ôi, vầng trăng sao mãi hình bán nguyệt?/ “Cha ơi, cha đang ở nơi đâu?” (Đi tìm cha). Rồi những bài như: “Thư gửi cha”, “Những giấc mơ”, “Tháng Bảy”, “Những lá thư của cha”, “Về thăm Côn Đảo”...
Và đây là những dòng thơ viết về mẹ, thoạt nghe thì tưởng là vụn vặt, nhỏ bé, nhưng ngẫm nghĩ thì lại thấy tấm tình này sao mà sâu sắc, hiếu nghĩa đến thế: “Mùa xuân về, lòng con thấy chơi vơi/ Vì xuân nay, con không còn mẹ nữa! Ở thế giới bên kia, ai sẽ mừng tuổi mẹ?/Và xuân này, con mừng tuổi cho ai?” - (Vắng mẹ). Và: “Căn nhà xưa đâu còn dáng mẹ/ Thắp nén nhang thơm, ấm nồng tình mẫu tử!/ Mẹ - Căn nhà, che chở suốt đời con!” - (Về thăm mẹ). Câu hỏi: “Ôi, vầng trăng sao mãi hình bán nguyệt?”, “Cha ơi, cha đang ở nơi đâu?”, “Ai sẽ mừng tuổi mẹ” và “Con mừng tuổi cho ai?”... là những câu thơ hay và gợi. Nó đã làm tôi thắt nghẹn. Bởi, tôi nhớ đến cha tôi, mẹ tôi, nhớ đến những người cùng cảnh ngộ, như thế. Thương lắm, và đau lắm!
Có thể nói, bằng lối viết tự sự nhẹ nhàng và cách sử dụng khéo léo những từ ngữ bình dị, bằng hiện hữu nỗi đau thiếu vắng người cha từ thuở lọt lòng và nỗi gian nan vất vả mà mẹ mình phải chịu đựng, Huệ đã khắc họa thành công sự hy sinh âm thầm không thể tính đếm của những người mẹ, người cha, của những cuộc đời đã đi qua cuộc chiến. Đó là kết quả của một tâm hồn nhạy cảm, mẫn tiệp, có kiến văn sâu rộng và đầy ắp nghĩa tình của một người con đối với gia đình, quê hương, nguồn cội. Những tâm tình đó giờ không còn là nỗi niềm riêng của một người con gái đối với cha mình là một liệt sĩ nữa. Nó đã được Huệ chắp cánh bay lên. Nó đã trở thành nỗi niềm chung của cả dân tộc đối với những người đã hy sinh cuộc đời mình cho sự bình yên của đất nước này. Tôi nghẹn ngào khi nhận ra điều ấy. Và tôi thầm cảm ơn Huệ đã viết hộ tôi nỗi lòng của một người con liệt sĩ.
Khi viết về tình bạn, tình quê hương, về mảnh đất mà mình đang sống và làm việc, văn thơ của Huệ lại ngân lên những khúc hát da diết và sâu lắng của một tâm hồn nhạy cảm thiên phú. Và những khúc ca ấy dường như ngày càng đằm thắm hơn, dạt dào hơn, tinh tế hơn khi mở rộng đề tài viết: “Quê hương tôi là tuổi thơ đầy ắp kỷ niệm nơi xóm nhỏ với những ngõ nhỏ ngoằn ngoèo, um tùm cây cối, những bờ mây, khóm duối với dáng mẹ tảo tần, lận đận gồng gánh nuôi con… là những người nông dân thật thà, chất phác, nhân hậu và nghĩa tình” (Quê tôi); Hay như: “Có khi nào ai lỡ hẹn vì ta/ Mà sao suốt chặng đường, ta khắc khoải?/ Giữa chiều Thu, bỗng có ai trở lại/ Chợt ngỡ ngàng, khi gió đã heo may” (Lỡ hẹn với mùa thu). Có thể tìm thấy sự đồng vọng như thế trong rất nhiều bài như: “Quê tôi”, “Chuyện cổ tích ở xóm tôi”, “Chuyện ở lớp 8A”, “Tìm về bên nhau”, “Nhà Búp của tôi”, “Kỷ niệm chuyến đi lịch sử của Nhóm Búp Thái Bình”, “Thu sang”, “Hoa Sữa mùa đông”.
Với lối viết tự nhiên, bình dị và giàu cảm xúc, như vỗ về, như sẻ chia, như chỉ là tâm sự với chính mình…, Huệ không cố tạo ra sự ồn ào để lôi cuốn người đọc, nhưng người đọc khi bập vào thì khó có thể dứt ra. Có khi chỉ là phép sử dụng các từ điệp như: “Ngập ngừng, Hạ bước sang Thu/ Ngập ngừng, Thu đón gió từ heo may...” - (Thu sang).
Có khi chỉ là diễn tả những suy nghĩ chân thành, mộc mạc: “Khi đã ở vào tuổi trung niên, khi cuộc sống của tôi có khá nhiều kỷ niệm đẹp đẽ và thiêng liêng, nhưng, tôi vẫn hay nhớ nhiều về xóm nhỏ của mình - nơi lưu giữ biết bao kỷ niệm êm đềm của một thời thơ ấu, nơi giúp tôi cảm nhận sâu sắc về tình làng nghĩa xóm, cho tôi hiểu và trân trọng về tình người cao đẹp. Trong bộn bề lo toan, trong sự hối hả của cuộc sống hiện đại, những kỷ niệm về xóm nhỏ luôn là điểm tựa, là ký ức đẹp đẽ nhất để mỗi lần nhớ về, tôi thấy lòng ấm áp và thêm yêu cuộc sống hơn” - (Chuyện cổ tích ở xóm tôi).
Hay như: “Có một lần, ta lỡ hẹn Mùa Thu/ Một lần thôi, sao Thu vàng sắc lá?/ Một lần thôi, sao mưa rơi rỉ rả?/ Một lần thôi, sao gió hắt hiu chiều?/ Chỉ một lần, ta lỡ hẹn lời yêu/ Một lần thôi, mà gió vương liễu tủi!/ Một lần thôi, mà mây trôi lủi thủi! /Một lần thôi, mà nắng mãi nhạt nhòa” (Lỡ hẹn với mùa thu).
Rồi: “Quê hương tôi còn là những cảm xúc bâng khuâng, xao xuyến lúc giao mùa. Ấy là cảm xúc khi mùa xuân đến, khi hương hoa mùa xuân của những khu vườn sực nức đất trời, tôi như có thêm năng lượng để bắt đầu một năm với nhiều hy vọng. Ấy là những ngày nắng hạ, khi cánh đồng quê tôi chuẩn bị vào vụ cấy, mùi ngai ngái, hăng hăng của bùn đất sao cũng chạnh lòng, thấy nao nao” - (Quê tôi)...
Nhưng chính sự gần gũi, mộc mạc ấy đã tạo nên vẻ đẹp rất riêng cho tập sách. Một vẻ đẹp bình dị của hạt hạt phù sa đang lặng lẽ đắp bồi cho những mùa xanh, đang thấm loang, ngân vọng, vá lành những trống vắng, thiếu khuyết trần ai…
“Khoảng xanh còn mãi” thực sự là một tập sách đáng đọc.
Xin cảm ơn Huệ đã cho tôi một đặc ân khi được đọc tiếng lòng của Huệ trải dài suốt gần nửa thế kỷ qua - Tiếng lòng ăm ắp yêu thương ngân vọng từ một hồn thơ lai láng sa hồng.
Hà Nội, ngày 4/7/2026
Trần Huyền Tâm