Vài cảm nhận về thơ văn thiếu nhi Thái Bình
- Chủ nhật - 04/01/2026 14:24
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này

VÀI CẢM NHẬN VỀ THƠ VĂN THIẾU NHI THÁI BÌNH
(Kim Chuông )
15 năm qua, Hội văn học nghệ thuật Thái Bình liên tục mở lớp đào tạo, bồi dưỡng các em thiếu nhi có năng khiếu sáng tác văn học. Đây là chặng đường mới, là bước ngoặt của đội ngũ mầm non văn học tỉnh nhà. Từ năm 1976 về trước, có thể nói, trên Đài phát thanh và trên các báo chí Trung ương, chúng ta ít gặp một đoạn văn xuôi hay bài thơ nào của các em thiếu nhi Thái Bình. Giải thưởng trong các cuộc thi sáng tác thơ văn lại càng hiếm. Vậy mà, 15 năm dự các lớp học tập và sáng tác, hàng trăm thơ văn của các em được giới thiệu đều đặn trên các báo chí. Buổi phát thanh văn nghệ thiếu nhi Đài tiếng nói Việt Nam đã dành nhiều chương trình giới thiệu phong trào sáng tác văn học của các em ở Thái Bình, với những trang văn thơ được rút ra từ các tập "Búp trên cành" của Hội.
"15 năm các em Thái Bình dự 13 cuộc thi viết về do báo Thiếu niên Tiền phong, Bộ Giáo dục... tổ chức. Các em nhận được 56 giải cá nhân và 5 giải đồng đội. Trong giải cá nhân có tới 10 giải A và 13 giải B. Các em còn 7 tranh được chọn vào Bảo tàng mỹ thuật Việt Nam; 8 bài văn thơ và tranh được in hoặc trưng bày tại Liên Xô, Ấn Độ, Pháp, Cộng hoà Liên bang Đức...". Ở các cuộc thi sáng tác thơ văn, các em thiếu nhi Thái Bình đều chiếm được giải thưởng cao. Điều cốt lõi là qua lớp học và viết của Hội, trên mỗi tác phẩm, các em đều đã tự đổi khác mình, tự nhân mình lên và hoàn chỉnh mình từng bước. Từ lứa đầu tiên như Đỗ Thị Mai Hương, Bùi Thị Thanh Huyền, Lã Bắc Lý, Bùi Thị Biển, Trần Thị Thu Huê, Lê Quang Đôn, Nguyễn Thị Toán, Trần Thị Huyền Tâm, đến Chu Xuân Giao, Đỗ Thị Thanh Thủy, Bùi Thị Vân Khánh, v.v.v.. Mười lăm năm qua, có tới hàng trăm em đã qua lớp học tập, sáng tác này. Với Hội văn học, việc mở lớp đào tạo, bồi dưỡng là giải quyết tốt mối quan hệ giữa tài năng và điều kiện cho tài năng phát triển.Nhìn lại trang viết trên chặng đường ấy, điều rất rõ là ở lứa tuổi các em, chiêm nghiệm chưa nhiều, trực giác cũng còn ít ỏi. Ánh sáng của mọi nhận biết lại đi từ trực giác dẫn tới tư duy. Bởi thế, dù tài năng lớn cũng không thể đem tâm hồn mình ra thay thế cho một thế giới. Với các em, ban đầu là sự cảm nhận thế giới quanh mình, là trực giác. Và, rất nhiều bài viết biểu hiện khả năng quan sát phong phú làm nên yếu tố thành công cũng từ khía cạnh này. Chúng ta đọc những câu:
Ngày nào cũng vậy
Sau buổi học tan
Các bạn gió chạy ùa vào thôn xóm
Có bạn gió nghịch
Ngồi trên tàu lá chuối đong đưa
Có bạn đẩy cái diều lên cao tít
Có bạn chùm môi thổi cái lồng gà
Đem đi đâu mất
. . .
Có bạn níu đầu cây tre xuống
Vạch tìm tổ chim
. . .
Chú ve sầu say sưa soạn nhạc
Bằng chiếc nhị con
Bắt đầu kêu ọ ẹ
Rồi ngân lên kéo dài ...
Đây là bài thơ "Bạn gió mùa hè" của Lê Quang Đôn. Ở bài thơ này, thế giới bên ngoài đã ùa vào tâm hồn em qua nét nhìn ngộ nghĩnh. Tất nhiên, phải có Lê Quang Đôn, chủ thể đóng vai trò cảm nhận. Song, ngỡ tước đi cái bề bộn từ phía bên ngoài như: "Gió vào bếp thổi hồng đôi má, gió nâng chiếc lồng gà lên cao tít, chú ve sầu soạn nhạc, gió kéo nhị ọ ẹ v.v., thì không còn thơ nữa.
Bài thơ "Buổi sớm ở Thuận Vi" của Phạm Thị Lan Anh cũng thành công từ cơ sở trực giác sinh động như thế:
Buổi sớm ở Thuận Vi
Sao hôm nay đẹp quá
Màu trời và sắc lá
Ai đem hòa vào nhau ?
Phù sa đục ngầu ngầu
Mà sao màu lá biếc
Có phải tiếng chim hót
Đánh rơi giọt sương tròn
Nắng luồn qua kẽ lá
Như những đồng xu con.
Và, Đỗ Thị Thanh Thủy trong bài thơ hay viết về "cái quạt" thì ở đây, vẫn là cái tai nghe tinh, cái mắt nhìn đẹp, còn cái tâm vẫn nhận thấy, nhưng cái nghe, cái nhìn vẫn trội vượt trong các mối liên hệ:
Phành phạch, phành phạch
Thân quạt mảnh mai
Mà sao đựng được
Bao con gió dài ?
Quạt là con mắt
Chớp gì liên hồi ?
Bao làn gió mát
Quây quần quanh nôi...
Chẻ ra cái nghe, cái nhìn, cái nghĩ (tai, mắt và tâm) để phân tích và nhận diện yếu tố nào nổi bật ở từng bước chuyển tiếp của lứa tuổi các em trên trang viết. Còn mối liên hệ giữa các mặt được bộc lộ ở sự thống nhất, nằm trong nhau, chứa đựng nhau, như nội tâm và ngoại giới, tôi và ta, thiên thu và nhất niệm..v.v...
Rõ ràng, thời gian là hữu hình, là vật chất. Đọc những bài viết của các em buổi ban đầu dự trại, thường dừng lại ở cảm hứng tự phát, rất bản năng. Đấy là một đoạn văn tả cảnh chiều quê. Một cơn mưa chợt đến. Một sớm thu sang... Tất cả những bài thơ, đoạn văn ấy mới dừng lại ở nét phác thảo bức tranh. Cái sinh động thuộc về phía bên ngoài. Vậy mà, sự kết tinh từ các lớp học tập sơ giản về lý luận văn học; từ những chuyến đi và viết; từ những người thầy trao đổi những điều tâm huyết của đời mình, nghề mình; từ quá trình làm việc tay đôi trên từng trang bản thảo của các em; từ ngôn từ, hình ảnh, hình tượng, kết cấu, văn điệu, ý tứ, thi pháp... trang viết của các em đã đổi khác rất nhiều. Cũng là ngôn ngữ, hình ảnh, hình tượng, nhưng cái nội lực giàu có, cái sức mở, sức lay động lớn hơn – cái trực giác đã chứa đựng sức tư duy, chiêm nghiệm. Trong bài "Qua vườn", Lê Quang Đôn viết:
Qua vườn gió hoá màu xanh
Xuống vườn, cái nắng cũng thành tươi non
Vì không có một mảnh vườn
Thì ôi, gió nắng cũng thường mà thôi
Hai câu đầu của bài thơ này nghiêng về quan sát, nhưng hai câu dưới là cái nghĩ, là ý nghĩa nhận biết, bài thơ bỗng âm vang và có sức nặng hơn.
Ở Đỗ Thị Thanh Thủy, từ bài thơ chỉ là nét vẽ ngoại hình thì bài "Mẹ" hình ảnh bên trong đã được đẩy tới khá cảm động:
Quạt như cái lá
Tay mẹ cành cây
Cành cây gầy gầy
Nuôi bao ngọn gió
Rồi, Nguyễn Thị Toàn đã tự lý giải khá sâu sắc trong bài thơ "Cháu hỏi và ông trả lời":
Ông ơi, vì sao
Giọt nước biển quê ta mặn chát
Chẳng khác giọt mồ hôi và nước mắt
. . .
Nỗi buồn hiện lên mặt ông
Nếp nhăn nhiều như mắt lưới…
Đây là thơ. Với những trang văn xuôi, buổi đầu cầm bút, hầu hết các em cũng chỉ dừng lại ở chuyện kể có đầu, có cuối, ở một dạng tự sự. Dần dần, nhiều em đã đạt tới sức nặng của trang viết với sự quan tâm của nhiều yếu tố nghệ thuật. Đó là, nhân vật thế nào, cốt truyện ra sao ? Kể, tả, bình... và cả tư tưởng của chủ đề nữa... Tất cả những cái đó được chín trong các em như quá trình kết tinh của hạt muối đã đem về vị mặn. Đó là, âm hưởng còn vang, đẹp mãi trong truyện "Ngõ xóm", "Bà của cháu" của Bùi Thị Biên, "Lời hứa", "Bu tôi nhớ anh Tuấn" của Đỗ Thị Mai Hương, "Xóm Cau" của Bùi Thị Thanh Huyền, "Làm chị" của Trần Thị Hương, "Chuyện cấy lúa" và "Mưa ở Quảng Nạp" của Trần Thị Thu Huê.. v.v...
Văn học có quy luật riêng. Không ít người viết, khi am hiểu sâu sắc về vốn sống, vốn chính trị, vốn hiểu biết và cả vốn văn chương nữa, nhưng việc sáng tác có khi bị chững lại hoặc không còn viết được. Trong đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ mầm non văn học của chúng ta cũng diễn ra như thế. Là tài năng, thật quý và hiếm. Song, tất cả các em đi qua lớp đào tạo, bồi dưỡng của Hội đều trở thành người am hiểu văn học sâu sắc hơn. Ai sẽ trở thành người gắn mình với một đời cầm bút ? Ai sẽ trở thành thầy, cô giáo ham mê giảng dạy văn học…? 15 năm qua, và chặng đường còn xa dài nữa. Hội văn học nghệ thuật Thái Bình đã và đang khơi nguồn, tạo đà và làm nên nhịp cầu không kém phần hệ trọng.
Thái Bình, hè 1990
K. C.
—---
* Trích giới thiệu tuyển tập văn thơ thiếu nhi TB, 1990.
* Bài in trong tập san Búp trên cành số 62 (Hội Văn học nghệ thuật Thái Bình, in tháng 9 năm 1990), trang 56-58.