Chị Hai - Đời cho bất hạnh, chị chọn bất khuất để thành công
- Thứ sáu - 08/05/2026 13:59
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này

(Ảnh: TS Thanh Bình)
CHỊ HAI - ĐỜI CHO BẤT HẠNH CHỊ CHỌN BẤT KHUẤT ĐỂ THÀNH CÔNG
(Thanh Bình)
Sáng ra, ông xã háo hức báo tin “Dự án đồng hành cùng AI” xây dựng trang Web cá nhân chuyên về ảnh, video đã kết thúc. Lão nói nhiều, mà nó hiểu ít. Chỉ nhớ được mấy ý đại loại: bảo đảm tính chân thực, độ chính xác khi nhờ AI tạo ảnh trên nền ảnh gốc; bảo đảm sự đồng nhất nhân vật trong một cốt truyện, tiểu phẩm, với ít nhất ba nhân vật chính; bảo đảm tiện lợi, tạo đến đâu, tự động tải lưu và đánh số từng phiên bản không nhầm lẫn, “đúng ý đồ tác giả”; mỗi lần, có thể tạo được đến 20 ảnh... miễn phí... Sung sướng hơn cả, là lão bảo: Đã chiết xuất ra sử dụng độc lập, không nâng cấp tiếp được, nhưng không sợ một ngày đẹp trời bị AI nó ngắt, cứ việc dùng miễn phí cả đời nếu đừng đòi hỏi gì nữa. Nó khoái lắm. Chơi với facebook, chọn AI làm trợ lý, có cây công nghệ trong nhà, còn gì bằng.
Nó đang mắt chữ “O”, mồm chữ “A” nghe lão nói, chợt thấy ting ting tin nhắn đến, quen tay mở điện thoại, tin nhắn zalo, từ... lão:
- Hâm à, ngồi cạnh, đang mở máy thì cho xem luôn đi gửi tin nhắn làm gì!
- Thì cứ mở ra đi!
Nó mở tin nhắn. Bức ảnh lớn, mấy giây mới tải xong, không phải ảnh nó. Hằng ngày, mỗi khi tạo được cái ảnh xinh xinh, hay ho cho vợ lão vẫn gửi như thế, dù nó đang ở công ty, đang đi coffee với bạn hay giữa đêm khuya với cháu.
Hôm nay là ảnh chị gái thứ hai của nó. Bức ảnh chính diện, được tạo từ bức ảnh lưu trong máy, hơn một năm trước, khi lão giúp nó làm phim tri ân chị và người thân. Chị mặc áo dài hoa nhỏ hai màu xanh đỏ, sáng mà vẫn nền nã. Nét mặt đủ béo, đủ tươi, cũng đủ trầm tĩnh. Trong không gian quán coffee, rất giống quán nhỏ đầu ngõ nhà chị. Chị ngồi một mình một bàn. Tay trái đặt nhẹ trên bàn, tay phải nâng ly coffee, vừa tầm, thanh thoát và thảnh thơi lắm.
Chồng nó vẫn tay trái ôm bàn phím, tay phải cầm chuột di di, mắt đăm đăm nhìn màn hình tivi lớn, diễn giải:
- Đẹp không? Vừa tạo cho chị Oanh cả chục cái đó. Những cái nghiêng không giống lắm, những cái trực diện rất giống, cũng rất đẹp. Thực ra, chị Oanh, chị ấy đẹp gái nhất nhà đấy!
Một cảm xúc nghèn nghẹn dâng lên sống mũi, rồi lên mắt...
Nó chuyển tiếp bức ảnh vào nhóm năm chị em gái - năm con gái của u, nhắc nhẹ: “Mọi người, mỗi người cho một lời bình đi”:
- Đẹp đấy, chị cảm ơn chú Hằng nhé!
- Ảnh chụp từ bao giờ đấy chị?
- Siêu nhỉ? Bác Oanh coffee quán nào đấy?
- Nghĩ giá như chị ấy giống mình về thể hình... giá như chị ấy được thảnh thơi sống cuộc đời của mình không bận lòng thì chị ấy “thung thướng” vô cùng, và chúng ta cũng nhẹ lòng.
Cuối cùng thì cũng có người nghĩ và nói ra điều giống với nó. Lúc nhìn bức ảnh, trong đầu nó bật lên suy nghĩ: Bao năm ước mơ chữa được cánh tay phải bị liệt cho chị. Cuối cùng, người thực hiện ước mơ ấy, không phải là nó, là con AI và ông xã nó.
Chị nó bị bại liệt từ nhỏ. Khi nó biết, chị đã như thế. Gương mặt thanh tú, mũi cao, tóc đen mượt. Tay phải bị liệt, chân trái teo nhẹ, rất yếu, đi lệch nửa người. Nó lớn lên cùng chị, như hai con chim nhỏ cùng mẹ, không thấy có sự khác biệt gì. Đôi khi có người gọi chị là “con què”, nhưng kiểu gọi của người nhà quê dùng để phân biệt khi nói về gia đình có đến năm chị em gái, chứ chị chẳng có gì để chê hay mắng. Nó cũng chẳng để tâm. Có lẽ vì thế mà điều nó cho chị nhiều nhất là sự vô tâm và bình đẳng tuyệt đối với chị.
Chỉ khi lớn lên, ra ngoài, thêm hiểu biết về người khuyết tật, làm việc với giáo dục trẻ khuyết tật, nó mới dần soi chiếu lại hiểu và thương chị hơn. Mỗi lần làm gì nó thường hay liên tưởng đến chị, nghĩ và nhớ lại xem chị đã làm điều đó như thế nào.
Nó thấy chị trong những bữa cơm ngày xưa, khi cả nhà ngồi quây tròn quanh mâm cơm giữa sân, chị chân quỳ, chân chống; tự mình, tay trái cầm tay phải đặt lên đầu gối, lấy má ghì giữ để cái tay không bị tuột; tự mình bê bát cơm (dù nóng hay nguội, không phân biệt, mọi người có sao chị được vậy), đặt lên đầu gối, mấy ngón tay phải dài ngoẵng, bé xíu loi ngoi như mấy cái chân cua, chân ghẹ, quặp vào mép bát; tay trái, tự mình gắp thức ăn, rồi và, rồi ăn. Hết bát, lại đặt đũa, tự mình tay trái đặt bát xuống mâm; tự mình tay trái, nhặt tay phải thả xuôi xuống. Lúc bé ăn với chị nhìn nhiều quen mắt chứ dốt lắm, còn chưa đủ hiểu để thương.
Mỗi khi tắm giặt, nó nghĩ về chị tự mình tắm, giặt, mặc, tất cả chỉ có một cánh tay trái. Chắc chị vất vả lắm khi lồng thêm chiếc áo khoác nặng, lúc trời trở rét.
Nó nghĩ về chị khi tự mình bê chậu quần áo, khi nhặt quần áo, khi giũ, khi phơi, rồi thu xuống, rồi gấp, rồi đóng gói, treo cất mỗi khi chuyển mùa, nhiều khi không chỉ cho mình, còn cho nhiều người khỏe khác.
Dù là người khuyết tật và nghèo khó với đồng lương của cô giáo tiểu học vùng quê Thái Bình, nhưng lần lượt các anh chị em trong nhà, các cháu ruột... đều “mắc nợ” chị. Nợ tình và cả nợ tiền nữa. Mắc nợ chẳng phải vì mọi người xin, vay hay nhờ vả gì chị, mà toàn tự chị cho đi.
Người thiếu tiền, thiếu nhà, chị tặng vàng, góp quỹ giúp an cư lạc nghiệp.
Người thích xe, chị cho xe. Chuyện là, chị liệt tay phải không đi được xe nhưng trong nhà lúc nào cũng có cái xe máy xịn, chị bảo để khi cần chị nhờ mọi người chở cho tiện. Thế rồi, chỉ cần khen xe đẹp, đi thích, chị bảo: Thích thì lấy mà đi.
Người thích hát chị cho bộ karaoke xịn vừa sắm được, chỉ một câu nhẹ như bấc: Thích thì mang đi mà hát, em ở nhà ít dùng.
Người muốn đổi tivi to chị bảo: Lấy đi, nhà Cụ chật, chị xem cái này to quá...
Mọi người cứ hồn nhiên khen, hồn nhiên nhận. Chị muốn cho đi, mọi người muốn chị vui.
Nghĩ về chị, lúc chưa lấy chồng vừa đi dạy học ở trường Kim Đồng, vừa tham gia hát mừng đám cưới. Giọng cô giáo ấm và mềm ai nghe cũng thích.
Nghĩ về chị những năm đi về với giáo dục Song An, Song Lãng, Vũ Thư, Thái Bình, những cuối tuần ống thấp ống cao xuống bãi sông gần trường bắt hến, ra ruộng cạn bắt cua, mang về cho u và cả nhà cải thiện.
Nghĩ về chị với những luống rau theo mùa, tự mình cuốc, tự mình trồng và chăm sóc...
Nghĩ về chị những năm tháng phiêu dạt từ Nam ra Bắc, học trung cấp sư phạm lên cao đẳng rồi đại học; từ giáo viên thực tập thành giáo viên giỏi cấp tỉnh. Mấy chục năm ấy là bao thăng trầm, bao nước mắt...
Nghĩ về chị, ngày đi lấy chồng, không may phải kẻ bạo hành, sau hai ngày, chị gọi cho em gái chỉ nói một câu: “Đưa chị về, đưa ngay không chị chết. Nó dã man lắm”. Thế là chị em lừa lúc hắn đi uống rượu, thuê cái xích lô chở chị với quần áo và hai cái gối dời đi. Nó chưa bao giờ dám dừng lại để thực sự tưởng tượng cảnh mỗi ngày, mỗi đêm chị bị khống chế bạo hành như thế nào. Chị cũng chưa một lần thực sự kể.
Nó lấy chồng, sinh con, chị cứ tự nhiên trở thành người chăm sóc. Chăm nó, chăm em rể, chăm cháu vô điều kiện, bất chấp cả những vô tâm và thị phi. Năm 1995 nó đi Hà Nội ôn thi, chưa sắp xếp được nơi ăn chốn ở nên gom hai con sinh đôi về nhờ chị. Chị đón nhận như là đương nhiên chẳng một lời kêu khó. Một bà bác liệt tay, chân đi bước thấp bước cao; một gian tập thể chưa được mười mét vuông chật chội thiếu thốn và hai đứa bé hai tuổi. Mỗi khi nghĩ lại, nó vẫn tự trách mình: Sao hãnh tiến và vô tâm đến thế? Tại sao nhất quyết phải tìm đường đi Hà Nội, tìm đường bồng con bươn chải ngược xuôi Cầu Giấy, La Thành? Tại sao lại lựa chọn trao hai đứa con bé bỏng vào tay chị và vào tay người khác? Tại sao nó không chọn mười lăm năm lưu lạc một mình mà lại khiến cả ba con nổi chìm cùng nó? Nếu có một nỗi đau không lành thì đây chính là nỗi đau và sự ân hận lớn nhất đời nó.
Nó nhớ mỗi cuối tuần lập cập gửi con lớn, một mình về quê thăm con bé. Có lần về sớm chứng kiến cảnh chị dắt chiếc xe đạp, hai đứa nhỏ ôm nhau ngồi yên sau từ trường về phòng ở tập thể, dù chỉ chừng hai chục mét, mà sao nó ám ảnh, kinh khủng đến thế? Ơn giời, sau này mất xe đạp nên ba bác cháu chỉ dắt nhau đi bộ lối tắt về nhà và ơn trời vì thời đó nghèo tăm tối nhưng an lành nên đã không có rủi ro nào xảy ra với hai con.
Nó nhớ hôm nó nhận quyết định trúng tuyển cao học, ba mẹ cùng chị và nó họp bàn về cuộc sống của nó khi đi học. Ba mẹ đã cùng chị, mỗi người góp nửa tháng lương giúp nó thuê nhà, nuôi con giai đoạn đầu, cho đến khi nó có học sinh gia sư, học thêm và đi dạy dân lập. Nó nhớ chị kẽo kẹt suốt năm, hai mươi bốn tháng, ít nhất bốn tám lần (vì chưa bao giờ đi một lần mà được nhận lương ngay), tập tễnh đi bộ từ Đề Thám đến Trần Lãm, từ Trần Lãm về Đề Thám để lĩnh lương cho nó. Chị không kể nhưng nó hình dung được sự vất vả, nhẫn nhục mà chị nó chịu đựng mỗi khi xin lương cho nó, cho đến tận khi nó chính thức về Bộ ngày mồng 1 tháng 4 năm 1998 thì lương tháng đó mới được nhận dễ dàng theo lời hẹn của kế toán nhà trường.
Nó nhớ chị tự khâu cái túi phía trong quần âu thật chặt, để có lương là cuộn tiền giấu kín đi xe khách mang lên cho em.
Nó nhớ dáng chị bần thần không nỡ mỗi khi chia tay mẹ con nó trở về quê.
Nhớ lắm. Nhớ đến nỗi chẳng biết phải viết ra như thế nào. Là người giỏi ngôn ngữ nhưng nó cũng biết, với những gì chị dành cho nó âm thầm, sâu sắc; với những gì nó cảm nhận từ chị, ngôn ngữ chưa bao giờ là đủ.
Ngày chuyển nhà lên Hà Nội, nó không tìm được các tập album cũ, chị bảo: “Bị rơi khi chuyển đồ”, nhưng, không hiểu sao trong các giấc mơ bất chợt ghé qua, nó thấy chị ngồi gẩy lửa đốt từng trang album thời sinh viên, thời đầu hôn nhân với từng tấm ảnh cưới, ảnh gia đình... của nó, vừa đốt vừa khóc. Chị đốt chúng như là cách chị giúp nó chôn vùi tất cả. Và thật sự nó stress nên quên đi nhiều thứ thuộc về trước năm 1996. Nó đổ vỡ hôn nhân, đông cứng, tê dại, mất đi khả năng làm thơ và ca hát (cả chục năm trời), nên không kịp cảm nhận, chính chị cũng là người đau đớn. Chị với nó chính là sống chết có nhau, khi cần là có mặt, tự nhiên, tự nguyện, chuyện của nó là chuyện của chị và chuyện của chị chính là chuyện của nó. Sau này nó trưởng thành, giỏi hơn chị, giàu hơn chị nhưng chị vẫn thế, cứ một chiều chăm bẵm nó và các con. Mỗi lần về quê, đều được chị dúm cho mớ rau củ tươi non giá rẻ, túi cà muối giòn, đĩa tôm trứng rang vàng ươm, khay nem rán sơ, khay thạch, lọ lạc rang, cân ruốc... Dạo nó chăm chồng con, một người đàn bà với năm người đàn ông tuổi ăn, tuổi ngủ, cộng thêm cháu chắt qua lại... chị luôn tìm cách thêm quà cho nó. Nó cứ làm bộ lạnh để chị bớt lo, nhưng trong lòng ấm áp và biết ơn lắm.
Chị cũng là người hiểu nó. Đến bây giờ vẫn thế, dù giỗ bố, giỗ mẹ hay lễ tết, nghe tin nó và các em về là chị sắp sửa ban thờ đầy đặn, đợi nó lên tầng nhà là nhúc nhắc leo theo, lẳng lặng chỉ chỗ để nhang, để lửa, lẳng lặng lấy tay trái nắm tay phải giơ lên ngang ngực cùng nó bái gia tiên, cha mẹ. Mỗi lần thấy vợ chồng cháu trai (con đầu của nó) về quê, qua nhà cụ thắp hương chị đều kể chi tiết cháu trai mua gì, cháu dâu theo chồng lên thắp hương như thế nào, ngồi chơi bao lâu, dâng lễ hay biếu quà bác hay từng câu thăm hỏi đều được kể lại tỉ mỉ, chị khiến nó rất vui và ấm áp, giống như cách chị ân cần tưới cây trên ban công vậy. Những hôm cháu trai về một mình, chị lại bảo: “Bận thế mà
cu Hạnh cũng ghé về thắp hương cụ”. Chị không bao giờ trách móc ai, hỏi han ai về việc hương khói. Chị và nó cùng mấy chị em gái học được của mẹ cái nết ấy, những thứ thuộc về tình yêu, sự quan tâm trân trọng dành cho gia đình, người thân đều phải từ tâm, không phải là nhiệm vụ.
Nó nghĩ về chị khi tự mình khuân từng cái chậu hoa, qua hai lần chiếu nghỉ, cầu thang chật chội chỉ năm mươi, sáu mươi centimet, dốc, chênh vênh lên tầng 2 nhà mẹ. Hình dung, chị cứ một tay nhấc cái chậu lên trước một bậc, lấy chân trái làm trụ, tay trái nhấc cái chân phải yếu mềm lên từng bậc thang, và kiểm soát cái tay phải lúc lắc theo lên. Có lần, giáp tết, bất chợt gặp, nó thấy chị cầm cái tay phải, nhét vào túi áo khoác phải... để leo cho dễ. Dù tàn tật, nhưng chị yêu cây, yêu hoa, quý anh chị em. Ngày Tết, ban công nhà mẹ lúc nào cũng dăm bảy cây tươi và vài ba chậu hoa nở theo mùa. Để có mỗi chậu cây, chậu hoa như vậy, không biết bao nhiêu lượt leo cầu thang mang chậu lên, mang đất lên, mang cây lên... rồi tưới, rồi chăm cần mẫn suốt bốn mùa.
Nó nghĩ về chị bao mùa giỗ, Tết. Giỗ cha, giỗ mẹ, giỗ ông bà nội, giỗ cô bé thoải họ Đào, giỗ cụ ba đời, bốn đời... (vì ba mẹ nó là con trưởng, dâu trưởng nên họ hàng giữ nếp vẫn theo giỗ). Bao lượt mâm bát khiêng ra, khiêng vào, khiêng lên, khiêng xuống, bày ra, thu vào trước và sau khi các em về. Chị là người chu đáo, nên nhiều khi, chúng nó lục tục về đến nhà, bàn ghế đã kê ra ba bốn bộ, mâm bát đã rửa lau khô bày biện đủ đầy, xôi gà đã nấu hoặc mua bày sẵn, hoa quả lễ mặn trên ban chẳng mấy khi đợi chúng nó về.
Ngày mẹ mất, nhà trên nhà dưới chưa kịp sửa. Đợi hết tang, chị báo cáo với các em, chưa ai kịp phản ứng gì, một mình chị xoay ra sửa nhà, thay cửa. “Nhà của cụ” bây giờ khang trang sạch sẽ, con cháu đi về có chỗ ăn, chỗ ngủ, đủ bốn, năm cái điều hòa, đều là tay chị. Các em ở xa, nhiều thì góp dăm triệu, ít đôi lời động viên.
Nghĩ về cuộc đời cơ cực mà vĩ đại của Người Khuyết Tật mang tên chị; nghĩ về sự can trường (có phần liều lĩnh) và nghị lực thực sự rất phi thường của chị. Nghĩ về tấm lòng chị với hết lượt các chị, các anh, các em, các cháu, người trước người sau, ai khó khăn yếu đuối đều có bàn tay trái mạnh mẽ rắn rỏi của chị dắt dìu. Chị chưa bao giờ giàu, nhưng đồng lương giáo học mấy chục năm đương chức và đồng lương hưu trí của nhà giáo hôm nay, vẫn luôn là dòng chảy vô giá, luôn cho đi... cho đến khi kiệt quệ.
...Chị đã từng kiệt quệ thể chất, đi năm bước sụp ngã ba bước; chị đã từng kiệt quệ về tinh thần, còn không dám nghĩ quay về nhà xưa; chị đã từng kiệt quệ trí não khi con virus ăn thịt người xâm nhập chị ba năm trước... Ai cũng nghĩ sau trận ốm lịch sử ấy, chị sẽ buông bỏ để sống cho mình một lần trọn vẹn, trong sự dang tay của các em... nhưng, sau tất cả, chị chọn quay về “Nhà của mẹ”, chọn chăm lo hương khói cho gia tiên và bố mẹ; chọn tiếp tục sự nghiệp trồng cây, trồng người cùng chị gái nuôi hai cháu của bà; chọn cho đi, chọn hy sinh thêm một lần nữa, với ít nhất hai nhiệm kỳ với mười năm nữa, đợi các cháu tốt nghiệp và vào đời.
... Mấy lần nó động viên bảo chị viết ra đi, ngại viết thì cứ kể ghi âm lại, bây giờ AI nó viết hộ giỏi lắm... nhưng chị bảo:
- Chị đã từng viết, nhưng cứ viết được một ít, chạm vào, lại đau và tức tưởi lắm, không dám nghĩ lại, không dám viết lại...
Nó yêu thương và ngưỡng mộ chị. Trong những đoạn hồi ký ngắn về mình để tri ân chị và mọi người, nó cũng chạm đôi dòng về chị, chỉ là thoảng qua từ góc nhìn của nó. Nó mong được cùng chị, sửa cuốn tiểu thuyết Đời Mình cho chị.
Bao năm, nó cứ ước mơ cho chị, ước cái tay phải của chị được lành lặn, dù chỉ một lần thôi, mà không làm được. Thật kì diệu, AI hồn nhiên trong trẻo, khi nhận diện gương mặt chị đã tạo ra chân dung chị, đẹp cân đối, tươi tắn và thảnh thơi bên ly coffee trong không gian bình đẳng đến thế.
Chị bảo: Dù đời muốn chị bất hạnh nhưng chị chọn kiên cường, bất khuất chống lại số phận, như ba thường dạy “nhân định thắng thiên”.