Kỷ niệm lần đầu đến Chùa Keo
- Chủ nhật - 26/07/2026 11:34
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này

(Ảnh: St)
KỶ NIỆM LẦN ĐẦU ĐẾN CHÙA KEO
(Nguyễn Diệu Liên)
Mùa hè năm 1984, khi ấy tôi vừa tròn mười một tuổi. Đó là mùa hè đầu tiên sau khi hoàn thành bậc tiểu học, cũng là mùa hè đặc biệt nhất trong tuổi thơ khi tôi được tham dự Trại sáng tác văn thơ thiếu nhi do Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Thái Bình tổ chức.
Những ngày ấy, với lũ trẻ chúng tôi, được đi thực tế sáng tác là một niềm vui lớn lao. Và chuyến đi để lại dấu ấn sâu đậm nhất trong ký ức chính là chuyến tham quan Chùa Keo – ngôi cổ tự nổi tiếng nằm giữa miền quê thanh bình của xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư.
Ngày ấy, cảnh vật quanh chùa đẹp như một bức tranh đồng quê. Con đường dẫn vào chùa chạy qua những bãi dâu xanh mướt ven sông Hồng, những vườn cây sai trĩu quả, những cánh đồng đay thẳng tắp trải dài đến tận chân trời. Gió mùa hè thổi nhẹ làm những luống cây gợn sóng xanh rì, mang theo hương đất, hương cỏ và mùi phù sa ngai ngái rất đặc trưng của quê hương Thái Bình.
Đó cũng là lần đầu tiên trong đời tôi được đặt chân đến Chùa Keo.
Đoàn chúng tôi được các bác lãnh đạo địa phương đón tiếp vô cùng nồng hậu. Vừa tới nơi, cả đoàn đã được tập trung trong khu chính điện để nghe giới thiệu về lịch sử hình thành, những giá trị văn hóa và kiến trúc đặc sắc của ngôi chùa.
Lũ trẻ chúng tôi khi ấy nghe được bao nhiêu thì nghe, còn mắt cứ mải mê ngắm nhìn những hàng cột gỗ lim khổng lồ màu nâu đen bóng như được phủ một lớp sơn tự nhiên của thời gian. Tôi ngẩng đầu nhìn những thân cột sừng sững, đưa tay chạm nhẹ vào mặt gỗ nhẵn mịn và tự hỏi: Người xưa đã vận chuyển những khúc lim to lớn ấy từ đâu về? Những chú voi kéo gỗ hẳn đã phải vất vả biết bao. Và bằng cách nào mà gần bốn trăm năm trước, người ta có thể dựng nên một công trình đồ sộ, tinh xảo đến vậy?
Mùi gỗ lim già thoảng trong không gian cổ kính khiến lòng tôi ngập tràn tò mò và ngưỡng mộ. Trải qua bao mưa nắng, chiến tranh và biến động của thời gian, những cây cột ấy vẫn lặng lẽ chống đỡ mái chùa, như những nhân chứng bền bỉ của lịch sử.
Sau đó, chúng tôi được dẫn đi tham quan toàn bộ khuôn viên chùa.
Bao quanh ngôi chùa là những hồ nước hình chữ nhật rộng lớn. Mặt nước trong veo như gương, phản chiếu mây trời và những tán cây cổ thụ xanh thẫm. Những cây sung già nghiêng mình soi bóng xuống mặt ao, trên cành lúc lỉu những chùm quả chín đỏ hồng. Những cây gạo cổ thụ, thân xù sì to đến mức vòng tay ôm không xuể.
Chúng tôi thích thú đứng nhìn mấy chú tiểu còn rất nhỏ chèo những chiếc thuyền thúng ra giữa ao hái rau muống. Những chiếc thuyền tròn chòng chành trên mặt nước, vậy mà các chú vẫn điều khiển vô cùng khéo léo, hai tay khua mái chèo dẻo như múa. Trong mắt lũ trẻ chúng tôi cảnh tượng ấy chẳng khác nào một màn biểu diễn xiếc kỳ thú.
Bên bờ ao, chúng tôi gặp một ni sư đang ngồi rửa bát. Người có gương mặt hiền từ, hàm răng trắng bóng và nụ cười ấm áp như nắng sớm. Trước những câu hỏi ngây ngô, tò mò của lũ trẻ về việc đi tu, xuống tóc, ăn chay hay không được lấy chồng, người chỉ mỉm cười dịu dàng, kiên nhẫn giải thích.
Không hề khó chịu trước sự hồn nhiên quá mức của chúng tôi, ni sư còn ân cần dặn dò:
– Các cháu đừng nghịch gần bờ ao nhé, nước sâu lắm đấy!
Giọng nói nhẹ nhàng ấy đến giờ tôi vẫn còn nhớ.
Ấn tượng nhất trong chuyến đi là khi chúng tôi được dẫn lên gác chuông năm tầng nổi tiếng của chùa Keo.
Chiếc cầu thang gỗ khi ấy đã có phần cũ kỹ. Ni sư liên tục nhắc chúng tôi phải đi thật khẽ, thật nhẹ. Trên gác chuông, quả đại hồng chung hiện ra uy nghiêm giữa không gian cổ kính. Những chiếc chuông đồng lớn nhỏ treo lặng lẽ như đang chờ khoảnh khắc cất tiếng.
Rồi tiếng chuông chiều vang lên.
Âm thanh đầu tiên ngân dài, lan tỏa trong không gian tĩnh lặng. Tiếng chuông hòa vào ánh nắng cuối ngày đang dần nhạt màu trên mái ngói rêu phong, bay qua mặt nước, qua những cánh đồng xa và tan vào bầu trời chiều yên ả.
Lũ trẻ chúng tôi bỗng im lặng. Không ai bảo ai, tất cả đều đứng lặng lắng nghe. Đó là lần đầu tiên tôi cảm nhận được vẻ đẹp kỳ diệu của sự tĩnh lặng. Và cũng ngay trong khoảnh khắc ấy, bài thơ “Nghe tiếng chuông Chùa Keo” của tôi ra đời:
Vẫn miền tịnh độ đó thôi
Mà sao tâm tưởng bồi hồi rưng rưng
Chiều tan trong nắng ngập ngừng
Tiếng chuông ngân, tiếng mõ bừng cõi mê.
Tiếng chuông hay tiếng hồn quê
Chợt xao xuyến, chợt gọi về cõi thiêng
Về Chùa Keo, hết ưu phiền
Trong ta gần lắm một miền quê xa.
Chuông chùa hay chính lòng ta
Giữa bâng khuâng thức ngân nga nẻo về.
Đêm hôm ấy, đoàn chúng tôi được ngủ lại trong chùa để trải nghiệm cuộc sống nơi cửa Phật.
Thời ấy điện lưới chưa có. Mùa hè oi nồng. Muỗi nhiều vô kể. Cả đoàn mắc màn từ rất sớm nhưng chẳng ai ngủ được. Những chiếc quạt giấy phe phẩy liên tục mà mồ hôi vẫn chảy thành dòng.
Ngoài sân, cây cối đứng im phăng phắc. Bầu trời đêm đen thẫm, đặc quánh hơi nóng.
Vậy mà lũ trẻ chúng tôi vẫn háo hức nói cười râm ran.
Đến nửa đêm, không biết ai khởi xướng, cả bọn rủ nhau mượn đèn pin rồi kéo ra phía sau chùa xem đom đóm.
Không gian tĩnh mịch đến mức nghe rõ tiếng mõ tụng kinh nhè nhẹ vọng ra từ căn phòng nhỏ của ni sư. Tiếng mõ đều đều giữa đêm khuya càng khiến khung cảnh trở nên huyền ảo.
Lũ trẻ rón rén đi ngang qua, thi nhau ghé mắt nhìn qua khe cửa. Bên trong, dưới ánh đèn dầu leo lét, ni sư vẫn lặng lẽ tụng kinh với dáng vẻ trang nghiêm và thanh thản.
Ra đến khu vườn phía sau, chúng tôi như vỡ òa sung sướng.
Hàng ngàn con đom đóm bay lập lòe trong đêm tối. Những đốm sáng nhỏ bé lúc ẩn lúc hiện, chập chờn như những vì sao vừa rơi xuống khu vườn cổ.
Cả khu vườn lung linh như cổ tích.
Lũ trẻ chúng tôi reo lên thích thú, chạy đuổi theo những ánh sáng xanh vàng ấy, nâng niu bắt từng con bỏ vào chiếc lọ thủy tinh làm đèn.
Tiếng cười trong trẻo vang khắp khu vườn tĩnh lặng.
Và cũng trong đêm ấy, đã ra đời bài thơ “Ơ kìa cô đom đóm” của cô bé Thanh Thủy – em gái tròn xoe như hạt mít nhỏ nhất đoàn, mới học lớp Ba. Sau này bài thơ còn được đăng trên Báo Quân đội Nhân dân, trở thành niềm tự hào của cả trại sáng tác.
Bốn mươi năm đã trôi qua.
Biết bao đổi thay đã đi qua cuộc đời, nhưng mỗi khi nhớ về Chùa Keo, trong tôi vẫn nguyên vẹn cảm giác thanh bình của buổi chiều năm ấy.
Vẫn là tiếng chuông ngân xa giữa hoàng hôn.
Vẫn là mùi gỗ lim cổ kính.
Vẫn là mặt nước xanh trong quanh chùa.
Vẫn là vườn đom đóm lung linh trong đêm hè tuổi nhỏ.
Tôi biết rằng những công trình kiến trúc, những giá trị lịch sử của Chùa Keo đã được nhiều nhà nghiên cứu, nhà văn và nhà sử học viết rất đầy đủ. Vì thế, trong ký ức của riêng mình, tôi chỉ muốn lưu giữ những cảm xúc hồn nhiên của một cô bé mười một tuổi lần đầu được chạm vào vẻ đẹp của di sản quê hương.
Xin được gửi lời tri ân tới các bác, các chú trong Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Thái Bình – những người thầy đầu tiên đã mở cho chúng tôi cánh cửa bước vào thế giới văn chương và đưa chúng tôi đến với những miền quê đẹp đẽ của đất nước.
Chính những chuyến đi ấy đã nuôi dưỡng trong chúng tôi tình yêu quê hương, tình yêu văn học và lòng trân trọng đối với những giá trị văn hóa truyền thống.
Đến tận hôm nay, mỗi khi nhớ về Chùa Keo, tôi vẫn nghe như đâu đó tiếng chuông chiều ngân vọng.
Tiếng chuông của trí tuệ và sự thức tỉnh.
Tiếng chuông của hồn quê.
Tiếng chuông thanh sạch, trong lành, ấm áp đã neo lại trong ký ức tuổi thơ tôi suốt bốn mươi năm qua.
Hà Nội, hè 2024 - Nhớ về những kỷ niệm xưa.