Thăm nhà Bác Hồ
- Thứ năm - 26/03/2026 14:39
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này

(Ảnh: St)
THĂM NHÀ BÁC HỒ*
Buổi chiều chúng tôi đến thăm nhà Bác. Chiếc xe ô tô đưa đoàn đi, đỗ xịch trước hai cánh cửa sơn đỏ. Nghe các chú trong đoàn giới thiệu, chúng tôi reo lên: “Nhà Bác”. Chú bộ đội gác cổng đứng nói chuyện với chúng tôi. Thì ra chú ấy cũng là người đồng hương.
Đúng hai giờ rưỡi chúng tôi được vào nhà Bác. Cô hướng dẫn là một cô giáo dạy Sử cấp III, trẻ như cô giáo của tôi. Chúng tôi đi trên con đường rải sỏi, dẫn thẳng tới Phủ Chủ tịch. Khu nhà cao đồ sộ, quét vôi vàng nhạt, ánh nắng của buổi chiều chiếu vào nom rạng rỡ, hớn hở hẳn lên. Cô Uyên (tên cô hướng dẫn) nói với chúng tôi:
- Các em ạ, hồi mới về đây, các bác các chú lãnh đạo Đảng mời Bác ở khu nhà này, nhưng Bác không đồng ý. Bác bảo làm cho Bác ngôi nhà nhỏ ở trong kia. Còn ở đây Bác chỉ dùng tiếp khách. Năm 1961, Bác cho các cháu thiếu nhi triển lãm: “Thiếu nhi làm theo 5 điều Bác Hồ dạy”. Còn phòng phía bên trái kia, có chiếc tủ, đó là nơi tối thứ Bảy, Bác và bác Phạm Văn Đồng cùng các cháu thiếu nhi xem phim. Chúng tôi đứng lặng hồi lâu. Sau đó chúng tôi vào thăm khu vườn cây ăn quả. Cạnh đó là ao cá của Bác, có những rễ cây mọc ngược, chưa bao giờ chúng tôi nhìn thấy. Cô Uyên kể: Ngày còn sống, đi qua đây, Bác thường đứng ngắm cây, thấy nó giống như người đứng tụng kinh, Bác đặt tên cho cây là “cây bụt mọc”. Tôi chợt nhớ đến câu thơ của chú Tố Hữu “Bụt mọc dầm chân đứng đợi ai”. Bây giờ những cây bụt mọc vẫn đứng đợi Bác đó! Đến một cây cao, to, chúng tôi ngạc nhiên thấy có một thân cây bằng xi măng. Cô Uyên cho biết có một thời cây này bị sâu, tưởng đổ. Các chú phục vụ định chặt đi, nhưng Bác Hồ bảo: “Chặt cây đi thì dễ, chữa sống mới khó, các chú cứ xây cho nó một cái thân xi măng để nó dựa”. Bây giờ nhìn cái cây cao lớn, lá xanh um, tôi nhớ Bác quá. Tôi thầm thì “Bác ơi! Cây đã sống, đúng như ý muốn của Bác”. Đi trên cái cầu gỗ sơn xanh, uốn cong cong mà hằng ngày Bác vẫn đi qua, tôi cúi xuống cố tìm vết chân xưa của Bác.
Trước sân nhà Bác có những khóm nhài, hoa đang nở, hương thơm ngào ngạt; hoa mà Bác yêu thích. Cạnh đó là hai cây dừa, quả chen chúc in bóng xuống mặt ao. Trước kia Bác đã tự tay chăm sóc hai cây dừa này. Ngôi nhà Bác ở, tôi không tưởng tượng như vậy. Một chiếc bàn dài và mấy chiếc ghế, tôi lại gần chiếc ghế Bác thường ngồi. Chiếc ghế như còn ấm hơi người như Bác vừa đi vắng đâu đây. Tôi biết, hằng năm cứ đến ngày 1-6, Bác cho các cháu thiếu nhi múa hát ngoài sân, chỗ có những giàn hoa đỏ. Bác và các bác lãnh đạo Đảng ngồi ở đầu sân xem các cháu múa hát. Khi nào Bác vui, Bác cũng xuống múa hát với các cháu. Sau đó Bác cho các cháu ngồi quanh ngôi nhà này để Bác chia kẹo. Một hôm Bác bảo với các chú phục vụ: “Nhà Bác thì chật mà các cháu đến lại không có đồ chơi, các chú nuôi cho Bác mấy con cá vàng để cho các cháu đến xem”. Hằng ngày đúng 5 giờ 15, Bác cho cá vàng ăn. Bác ơi, chúng cháu đến thăm Bác chỉ thấy cá vàng thôi mà không thấy Bác. Bác đi nhưng để lại đồ chơi cho chúng cháu, Bác không muốn chúng cháu buồn. Góc nhà để ba máy điện thoại, hai cái màu đen dùng để làm việc với các chú bộ đội (vì dạo đó giặc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc); còn cái màu xanh dùng để làm việc với các bác lãnh đạo Đảng. Chúng tôi nhìn lên phòng Bác, ở cánh cửa ra vào có treo một chiếc chuông. Khi ở nhà nghe thơ chú Tố Hữu, tôi cứ tưởng là chuông điện, hóa ra đây chỉ là một vật bằng đồng, mỗi khi có khách đến, mở cửa vào nhà thì chiếc chuông đó phát ra tiếng động. Thế là Bác biết có khách. Cô Uyên bảo trước kia chưa có chuông, các chú phục vụ Bác đều đứng đợi nếu có khách thì chạy lên báo với Bác. Thấy các chú phục vụ vất vả, nên Bác nghĩ và làm cái chuông này. Trong nhà Bác đồ đạc rất giản dị. Ở sát tường có kê một chiếc bàn làm việc, một chiếc ghế mây. Trên bàn để một cốc pha lê có nước. Mỗi buổi sáng tập thể dục xong Bác thường hái hoa nhài bỏ vào cốc cho thơm. Ngoài ra có một số sách, báo Bác đang đọc và chiếc mũ Bác thường đội. Điều làm tôi thích nhất là chiếc chiếu trải trên chiếc giường nhỏ mà Bác thường nằm lại là chiếu do chính Thái Bình gửi tặng. Tuy có quạt điện, nhưng Bác vẫn dùng chiếc quạt lá cọ mà nhân dân gửi biếu. Trên đầu giường có một chiếc gối bông nhỏ. Mặc dù bận trăm công, ngàn việc nhưng Bác rất ngăn nắp, trên giá sách của Bác, sách nào đọc rồi, hoặc chưa đọc Bác đều để riêng từng tập. Mỗi khi các bác lãnh đạo Đảng đến, Bác cùng các bác ấy làm việc dưới sàn nhà.
Tạm biệt ngôi nhà, chúng tôi vào thăm vườn cây ăn quả của Bác. Khu vườn này nằm ngay đằng sau ngôi nhà sàn Bác ở. Cây nào cũng xanh tốt, quả sai trĩu cành. Những cây bưởi Đoan Hùng thấp lè tè thế mà trĩu trịt những quả. Cạnh đó là cây vú sữa miền Nam lá xanh vàng, quả căng mọng. Mới ngày nào xem trên ảnh chụp lúc Bác đang tưới cây vú sữa còn bé, thế mà bây giờ cây đã lớn tỏa cành lá sum sê, che mát cho chúng tôi. Nhìn cây mà tôi tưởng như Bác đang đứng đó, cao lồng lộng, nụ cười hiền hậu, trìu mến đọng trên môi, chòm râu trắng như cước. Bác giống như ông Tiên trong những chuyện cổ tích. Đấy Bác đang dang vòng tay rộng, đón chúng tôi vào lòng.
Cho đến lúc cô Uyên dẫn chúng tôi đi thăm ao cá của Bác, tôi còn quay lại, luyến tiếc nhìn cây vú sữa lần nữa.
Chúng tôi xuống cầu ao cá của Bác. Sau mấy tiếng vỗ tay của cô Uyên, cá nổi lên chỗ cầu ao dày đặc. Các bạn tôi thích quá nhảy lên vỗ tay tiếp. Cá đến mỗi lúc một đông. Cô Uyên kể lại: hằng ngày sau khi cho cá vàng ăn, Bác lại ra đây cho cá này ăn. Đến giờ ăn, chỉ cần nghe tiếng dép cao su của Bác bước xuống cầu ao, cá đã đến đông đặc rồi. Nghe cô nói, tôi vô cùng cảm động và càng kính yêu Bác. Chợt cô Uyên đưa cho tôi giỏ cám và bảo tôi cho cá ăn. Tôi thích quá, vội phân phát cho các bạn tôi mỗi bạn một nắm để cùng nhau cho cá ăn. Cá đến đông ơi là đông. Con cá nào cũng béo múp míp, há chiếc miệng tròn xoe đón lấy mồi.
Tôi thầm thì: “Bác ơi, hôm nay cháu đã cho cá ăn rồi”. Nghe các chú phục vụ nói, hồi Bác sắp mất, bác Phạm Văn Đồng thường ăn cơm và làm việc với Bác tại ngôi nhà sàn này. Lúc ăn cơm, Bác thường chọn thức ăn ngon nhất gắp cho bác Phạm Văn Đồng và nói: “Chú ăn đi, để sống và làm việc với dân, với nước”. Thăm xong nhà Bác, chúng tôi ra về. Tôi khe khẽ chào Bác: “Cháu chào Bác ạ, cháu về. Cháu hứa với Bác sẽ quyết tâm thực hiện tốt năm điều Bác dạy”. Xe đã từ từ chuyển bánh nhưng chúng tôi còn quay lại ngắm nhìn ngôi nhà Bác một lần nữa!
Đỗ Thị Mai Hương
12 tuổi, Thống Nhất, Hưng Hà, Thái Bình
-------
*Giải B văn cuộc thi cuộc thi viết về ‘Đảng tiên phong, dân tộc anh hùng, sông núi vẻ vang” do Báo Thiếu niên tiền phong tổ chức năm 1977