Xóm Cau
- Chủ nhật - 26/07/2026 11:06
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này

(Ảnh: Ngan Nguyen)
XÓM CAU
Chả biết có phải vì nhiều cau hay không mà xóm tôi lại mang tên là “xóm Cau”.
Đi đâu về, đứng tận ở đầu làng, tôi đã nhận thấy xóm qua những ngọn cau cao vút, thẳng đuột. Bà tôi bảo ngày bà mới về đây làm dâu, xóm chỉ lèo tèo vài nhà ở, còn thì bỏ hoang mãi nên lại có tên là “xóm vắng”. Xóm tôi nằm dài như mớ tóc xanh dày của một cô gái. Xóm nằm gọn trong vòng tay êm ái của con sông Vĩnh.
Con sông Vĩnh không sâu lắm. Dưới lòng toàn là cát. Cứ vào lúc chập choạng là bọn tôi lại đi bỏ vó tôm. Mỗi đứa một cái đèn, một cái rổ con, chúng tôi cứ dọc theo bờ sông. Có hôm say cất đến tận chín, mười giờ đêm, có người lớn ra bắt về, chúng tôi mới chịu thu vó, vẫn không quên dặn với theo:
– Mai lại đi nhé! Sơm sớm tí đấy!
Chúng tôi ra về trong tiếng bật lạch xạch, nhao nhao của tôm trứng. Về mùa này, khi lúa đã chín vàng, tôm trứng đi ăn đêm nhiều lắm. Dưới ánh trăng mờ, những chú tôm trắng nõn duỗi thẳng trong vó hoặc bật lên lách chách rất vui.
Dọc những con đường nhỏ, xanh vàng màu hương nhu, chúng tôi về nhà. Đêm bao giờ cũng yên tĩnh và trong lành. Mùi ngan ngát của hương nhu, mùi thoang thoảng của lúa đồng cứ lặng lẽ tỏa hương.
Bây giờ đang mùa gặt. Cũng như mọi nơi, xóm Cau của chúng tôi khẩn trương thu lúa. Từ xóm nhìn ra, chỉ còn thấy những lùm rạ lô nhô như những cái nơm xếp hàng ở ngoài ruộng. Từ đường thôn, ngõ xóm cho tới tận sân nhà nào nhà ấy cứ vàng lên vì rơm rạ. Rơm bò lên tận hậu cửa hay nằm vắt vẻo trên những bờ rào, bờ giậu. Cơn mưa rào bất ngờ ập tới làm rạ tươi bốc lên mùi cay cay, nồng nồng. Nhưng chỉ một lát, nắng lại bừng lên, hong khô tất cả.
Ai muốn vào xóm gặp người quen, cũng khó mà gặp được. Mùa gặt đến, ruộng đồng, sân phơi như một khối nam châm lớn, hút tất cả mọi người ra làm việc. Ở nhà bây giờ, chỉ còn có lũ trẻ con sàn sàn lên bốn, lên năm. Chúng chỉ có việc đuổi gà, hay thỉnh thoảng phải chạy vào buồng xem có con chim bồ câu nào vào ăn vụng, mổ thủng bì thóc ra không. Mùa hè đến, đứa nào đứa ấy đen thui thủi, rôm sảy đầy người. Chúng ôm nhau vật lộn. Chúng chơi nấp tìm ở đống rơm, ở những gánh rạ gánh tranh thủ ban trưa, chưa kịp rỡ ra phơi. Có đứa chui ở đống rơm ra, người còn bám đầy rơm. Chơi nấp tìm chán, chúng lại ôm nhau vật nhau, lăn lộn trên sân, tiếng cười ré lên, vui vẻ. Mấy đứa con gái có đứa tóc buộc vểnh lên bằng một sợi rơm vàng hay để xõa ra, trông đến bức sốt. Chúng túm tụm dưới bóng râm chơi chuyền, chơi chắt. Người lớn đã đổ cả ra đồng. Trưa, tôi mới thấy khói bếp từ các nhà nghi ngút bốc lên mang theo cả mùi cá kho khô thơm phức, mùi canh cua, mùi rạ mới. Tiếng bát đũa lại lanh canh, lanh canh. Bữa cơm mới ngày mùa vội vã, một lát sau đã lại thấy mọi người vớ lấy cái liềm quang gánh, buộc lại cái nón, thắt lại cái khăn, rồi vội vã kéo ra đồng hay sân kho.
Tối đến, khi có trăng, người làm lại ra sân kho. Bà tôi mang lúa nếp phần trăm ra tuốt. Bọn trẻ con có đứa chơi trận giả, hét om cả xóm. Có mấy đứa con gái có vẻ “người lớn”, sán đến bên bà nghe kể chuyện. Những hạt thóc nếp tròn căng, vàng óng cứ dày dần trong cái nong to tướng. Bà cẩn thận xếp bằng những sợi rơm vàng ném lên mái nhà để sau này bện chổi. Tay nhăn nheo tuốt mắt nhìn đăm đắm vào hạt lúa, bà chậm rãi kể. Vẫn chuyện ngày xưa ông cùng đội du kích xã chiến đấu để bảo vệ xóm. Rồi chuyện xóm mình ngày xưa nhất định không chịu lập tề... Và bao giờ kết thúc câu chuyện bà cũng bảo:
- Ấy, ngày xưa có thế thì bây giờ mới được thế này!
Tôi bỗng thấy yêu tha thiết xóm Cau của tôi. Không phải chỉ vì cái giàu cái đẹp của xóm mà còn vì cả cái anh dũng, kiên cường của cái tổ ấm chúng tôi đang sống.
Những đêm tối ắng gió như thế, hàng cau trước cửa cũng nghiêm trang quá. Mùa này, cau đã ra quả. Những buồng quả con con trông đến là yêu.
Hè 1978
Bùi Thị Thanh Huyền, 14 tuổi
Nam Cao, Kiến Xương, Thái Bình