
- DƯƠNG CHÍNH CHỨC

Ngụ mị bất vong
Thành ngữ tiếng Hàn, tiếng Hán: 오매불망(寤寐不忘 - ngụ mị bất vong). Ở đây, ngụ - thức, mị - ngủ, bất - không, vong - quên. Câu này có nghĩa thức ngủ đều không quên. Đây là câu trong Quan thư (관저- 關雎) trong Thi kinh (시경- 詩經).
Chạy tiếp sức
Cuộc sống như cuộc chạy tiếp sức, hết người này đến người khác, hết thế hệ này đến thế hệ khác. Khi cha mẹ ta kiệt sức, cái gậy tiếp sức được trao lại cho ta, ta đón nhận và chạy không ngừng nghỉ. Khi ta kiệt sức, ta trao lại cho con cái, chúng lại tiếp nhận và chạy tiếp. Trên đường chạy, thi thoảng có chướng ngại, ta phải vận nhiều sức hơn để bật qua
Muốn, dục vọng và ước vọng
"Muốn" là một cảm giác về hữu, thủ. Với cá nhân, nó là một trong Thập nhị nhân duyên, tạo ra tham sân si, đưa người ta về Khổ. Nhưng nếu vì người thì lại là tâm Bồ tát. Ta là ai đều do tâm này mà ra.
Bậc trí giả, người nhân đức và kẻ dũng mãnh
Bậc trí giả thì thích nước, người nhân đức thì thích núi. Bậc trí giả thì động, người nhân đức lại tĩnh. Bậc trí giả sống vui vẻ, người nhân đức sống trường thọ. Bậc trí giả thì không loạn, người nhân đức thì không lo lắng và kẻ dũng mãnh thì không lo sợ.
Giá không vọng tưởng
Thành ngữ tiếng Hàn, tiếng Hán: 가공망상 (架空妄想 - giá không vọng tưởng). Ở đây, giá - nơi đặt/để, không - không, vọng - xằng bậy, tưởng - nghĩ. Câu này có nghĩa là tưởng tượng linh tinh, về điều không thực (터무니없는 상상. 근거가 없고 망령된 생각).
Người mà ta cần
Chẳng gì hạnh phúc hơn khi người ta muốn lại có mặt bên ta vào đúng lúc ta cần. Tự dưng bật ra suy nghĩ rằng thật hạnh phúc biết mấy khi có ai đó mà lúc ta muốn gặp thì xuất hiện, lúc ta khó khăn thì ở cạnh vỗ về an ủi, lúc ta cảm thấy cô đơn thì ở ngay bên cạnh nắm chặt bàn tay.
Bất triệt trú dạ
Thành ngữ tiếng Hàn, tiếng Hán: 불철주야(不撤晝夜 - bất triệt trú dạ). Ở đây, bất - không, triệt - bỏ, trú - ban ngày, dạ - ban đêm. Câu này có nghĩa là không để ý ngày và đêm.



