
- DƯƠNG CHÍNH CHỨC

Tâm thuật khứ phúc
Thành ngữ tiếng Hàn, Hán: 심술거복 (心術去福 - tâm thuật khứ phúc). Ở đây, tâm - lòng, thuật - cách thức, khứ - đi, phúc - phúc. Câu này có nghĩa là ai mà dùng xảo thuật mưu mô thì phúc rời bỏ mà đi.
Đắc Đạo
Giấy, xé thì dễ, dán lại mới khó. Cũng thế, nhân duyên, xé bỏ thì dễ, hàn gắn rất khó. Nói chuyện mà không mở lòng có khác gì muốn lấy đồ mà không mở ngăn bàn.
Khang cù yên nguyệt
Thành ngữ tiếng Hàn, tiếng Hán: 강구연월(康衢煙月 - khang cù yên nguyệt). Ở đây, khang - an bình/mạnh khỏe, cù - các ngả đường lớn, yên - làn khói, nguyệt - trăng. "Khang cù" là hình ảnh một nơi mà đường lớn tấp nập, tả sự hoạt náo, sầm uất , "Yên nguyệt" là hình ảnh khói bếp nhà nhà che mờ ánh trăng, tả sự thanh bình.
Tháng củ mật
Cứ mỗi dịp giáp Tết, thời tiết hanh khô, người ta lại nhắc nhau về việc việc cảnh giác đạo tặc, đề phòng củi lửa. Nghe nói, ngày xưa, dịp này mõ làng lại đi khắp làng vào buổi tối để gõ mõ chiềng làng: "tiết trời hanh khô, đề phòng củi lửa, tháng củ mật, cẩn thận kẻ gian".
Khi ta ghét ai đó
Khi ta ghét ai đó, một cách vô thức, ta trở nên giống người đó. Như ngay cả một người con dâu hận bà mẹ chồng trái nết, sau một thời gian, cô ấy trở nên giống hệt mẹ chồng mình.
Tiền nhân vị đạp
Thành ngữ tiếng Hàn, tiếng Hán: 전인미답 (前人未踏 - tiền nhân vị đạp). Ở đây, tiền - trước, nhân - người, vị - chưa, đạp - đến/đặt chân/giẫm. Câu này có nghĩa là trước đến nay chưa ai đến. Hàm ý là nơi chưa từng ai đặt chân, việc trước nay chưa từng ai làm (이제까지
Sư Pháp Luân
Khi ta ngắm hoa và thấy ưng ý thì đó là ta ưng ý chứ không phải hoa ưng ý. Ngắm trăng mà sầu thì là ta sầu chứ không phải trăng làm ta sầu.



