
- ANH VŨ

Bất chợt về quê
86 tuổi, trong vinh - nhục, được - mất cõi Người chốn triều đình, Hạ Tri Chương có được những giây phút tĩnh lặng dành cho riêng mình. Hỉ, nộ, ái, ố cùng danh, lợi, tình khiến người ta quay cuồng mà chẳng biết. Đến khi bạc phơ mái tóc, lờ đờ hai tròng mắt, răng cứng đã rụng, lưỡi mềm vẫn còn, thì mới thấm thía trò chơi sấp ngửa thế gian đã tới lúc tàn.
Tản mạn một niềm thương
Có lẽ khi viết những dòng thơ trữ tình xót xa mang sắc điệu trào phúng rất riêng của phong vị Tú Xương, nhà thơ bên dòng sông Vị không hề nghĩ đến việc đặt tên. Thế nhưng, người đời sau bằng cảm nhận dân dã đã dùng hai tiếng "Thương vợ" không chê vào đâu được đặt tên, chuyển tải tác phẩm vào trong tâm thức mọi độc giả qua nhiều thế hệ.
Quan tư đồ Trần Nguyên Đán (Phần IV)
Theo dấu chân của bậc thầy, và hẳn cũng trải qua rất nhiều công phu tĩnh tọa, lão Đạo Gia họ Trần mới truyền lại được chiêm nghiệm về sống và chết qua bài thơ. Có lẽ ảnh hưởng của chữ Chân là chữ quan trọng nhất trong Đạo Gia, cho nên, cụ Trần có rất nhiều bài thơ với tựa đề dài, cụ thể. Bản thân nó như là một trang nhật ký vắn tắt. Ta dễ liên tưởng tới Thi Tiên theo Đạo Gia Lý Bạch.
Gần
Tết quê ru rú trong nhà Ngầy ngật nhang muỗi, la đà tỉnh say Con nhìn ba, mẹ nhìn thầy Ba tìm một chốn chân mây, ba nhìn…
Quan tư đồ Trần Nguyên Đán (Phần III)
Trần Nguyên Đán cáo lão năm 1385 lúc vừa ngoài sáu mươi tuổi. Khép lại thời kỳ nhập thế bất đắc chí là bài thơ sau: Ban ngày lên trời dễ Giúp vua Nghiêu Thuấn khó Sáu chục năm quay về Thấy mũ vàng xấu hổ.
Quan tư đồ Trần Nguyên Đán (Phần II)
Thơ của Trần Nguyên Đán chỉ còn 51 bài. Chúng tôi lựa chọn những bài tiêu biểu mà vị Đạo Sỹ Chân Nhân này trình bày tư tưởng của mình. Đây quả là những mặt hồ tĩnh lặng của cái tâm cao khiết rất hiếm gặp của thi gia nước nhà .Phải có một trạng thái tâm thế nào thì mới chưng cất được những vần thơ đặc biệt như vậy!
Quan tư đồ Trần Nguyên Đán (Phần I)
Trần Nguyên Đán (1325 – 1390) hiệu Băng Hồ, là tôn thất nhà Trần, dòng dõi Chiêu Minh vương Trần Quang Khải. Làm quan tới Tư đồ dưới thời các vua Trần Nghệ Tông, Trần Duệ Tông và Trần Phế Đế, tước Chương Túc quốc thượng hầu.



