
- Trang văn

Chuyện ở Khu tập thể Đình Cả, Trần Lãm
Chủ nhật - 06/09/2026 07:11

(Ảnh: Pixabay)
CHUYỆN Ở KHU TẬP THỂ ĐÌNH CẢ, TRẦN LÃM
(Đào Thanh Bình - Mở lòng - NXB Văn học - 2026)
Nó muốn kể một chút về trải nghiệm ở khu tập thể giáo viên của trường tại Đình Cả, Trần Lãm, thị xã Thái Bình. Gọi là khu tập thể cho oách, thực ra, trường học nhờ ở ngôi đình cũ, ba gian phòng nhỏ là chỗ ở của mấy già trông coi đình ngày trước. Nó ở gian đầu với chị Hạ; gian giữa ba mẹ con chị Mây; gian cuối là mẹ đẻ của thầy hiệu trưởng. Căn phòng tập thể 6m2, hướng tây bắc, không cửa sổ, đông lạnh thấu xương, hè hầm hập nóng. Phía trong cùng kê một cái giường đơn, phía ngoài, liền với giường một cái bàn 1m2 và một ghế tựa. Treo trên đầu giường một cái giá hai tầng, bên dưới để cái hòm quần áo và vài vật dụng có giá trị khác; bên trên giá treo mấy thứ lặt vặt. Đối diện giường là chỗ để xe, đối diện bàn làm việc là chỗ cất bếp dầu, xô, chậu khi đêm về. Gầm bàn để thùng gạo và... cái lồng gà, sáng bê ra, tối bê vào.
Chị Hạ bầu to sắp sinh, hiếm khi ở lại qua đêm. Ba người đàn bà đơn thân hoặc giống như đơn thân cùng hai đứa trẻ gái, cứ chập tối, nhà nào nhà nấy đóng cửa im thin thít vì sợ: sợ trộm, sợ kẻ xấu, sợ ma... đôi khi chỉ là sợ bóng tối. Bà mẹ thầy hiệu trưởng, tầm 70 tuổi, còm cõi, già nua như các cụ 80-85 bây giờ, luôn giữ nguyên tắc: đã đóng cửa cài then là tuyệt đối không mở cho ai, kể cả cô Mây, cô Bình. Nó cũng không bao giờ mò ra ngoài khi nhà chị Mây đã đóng cửa. Chị Mây là dạn nhất, đôi khi có cốc chè hay cái kẹo lạc, chị mở cửa, ghé sang, gọi:
- Em ơi, ăn cốc chè cho giải nhiệt!
Nó hé cửa nhận:
- Em xin ạ!
Rồi lại đóng cửa ngay.
Mặc dù nhà vệ sinh ngay phía trái cách khoảng mười bước chân, nhưng đóng cửa là mỗi nhà một cái bô nhựa, người già, đàn bà góa, phụ nữ đơn lẻ và trẻ em gái, cứ an toàn là trên hết.
Nó ở tập thể chừng hơn hai năm. Cuộc sống cô giáo trẻ giản dị mỗi ngày, sáng lên lớp; chiều họp hành, dạy thêm; tối chăm chỉ soạn bài; lúc rỗi, trồng rau, nuôi gà. Ngày nghỉ, hai nhà rủ nhau ăn chung, góp nhau, mỗi người một món, thế là thành tiệc. Nó có một luống rau ngót, vài luống rau muống, ăn chả hết, thỉnh thoảng chị Mây lại hô con gái lớn, hái giúp cô, bó giúp cô, rồi... bán giúp cô. Có tiền lại mua ngao, mua vọp, canh chua, canh rau cải thiện. Mang bầu con trai cả, giai đoạn đầu vẫn ở tập thể của trường, nên khy sinh ra, cu Hạnh mắt đen, to, tròn, mọi người toàn gọi là “Mắt Vọp”.
Chuyện nuôi gà thì thú vị lắm. Con gái thành phố, cả đời chẳng biết nuôi trồng, thấy chị Mây nuôi gà mát tay hết lứa này đến lứa khác, có trứng ăn, có gà bán lấy tiền bỏ lợn và mua quần áo mới cho hai bé, nó thích lắm, nhờ chị. Bầu bí rồi, cũng phải nghĩ cách có tiền mua tã cho con. Thế là chị Mây dẫn nó đi mua đàn gà con và một cái lồng. Mỗi sáng, chị nhắc và hướng dẫn nó xách lồng gà ra, mở lồng thả gà, rắc thóc, ngô cho gà ăn. Chị thường bảo cho ăn non thôi để chúng tự tìm đồ ăn ngoài sân, ngoài vườn. Tối chị lại hướng dẫn nó đặt lồng gà ở vị trí cố định gần cửa bếp, mở cửa lồng, rắc thóc từ cửa lồng dẫn vào trong để nhử gà vào “chuồng”, rồi đóng cửa, buộc dây lại. Lũ gà con chiêm chiếp một hồi rồi im lặng, vào giấc. Tầm 7h, khi trời tối hẳn, cơm nước xong, nó lại bắt chước chị, dọn bếp, dọn xô chậu và xách cái lồng gà vào phòng, trước khi đóng cửa, cài then thật chặt.
Khu tập thể nhiều đất, có lần chị Mây xây cả một cái chuồng gà, bài bản lắm, nhưng gà vừa đến độ, sáng ra mất trắng nguyên đàn, tiếc đứt ruột, chị hiền là thế mà cũng đánh võng chửi đổng mấy câu vọng sang tận bờ ao bên kia, từ đó, cái chuồng bỏ không, cả chị và nó đều dọn chuồng lưu động vào nhà cho an toàn. Cứ như thế, đàn gà lớn nhanh như thổi. Gà tầm một, hai cân nó lại cùng chị đem ra chợ bán. Mỗi khi bán rau hay bán gà, chị thường bảo nó:
- Bán non đi một tí cho nhanh, về kẻo nắng.
Mớ rau của nó bao giờ cũng to và ngon nhất chợ, cái chợ nhỏ ngay đầu làng, gần đường cái nên cũng dễ bán. Nó thích nhất mấy chị mặc đẹp, đeo túi xách, ghé chợ. Nó vẫn nhớ những cuộc hội thoại ngăn ngắn ngày ấy:
- Chào cô giáo! Cô cho em mớ rau, rau tươi quá!
- Đây em! Non, ngon to lắm. Rau của cô Bình đấy, chị bán hộ. Cô Bình dạy Văn cấp 3, mấy hôm nữa con lên cấp 3, học cô nhé.
Hoặc:
- Chào cô giáo, cô bán gà ạ!
- Ừ gà nhà chị đấy! Còn đây là gà của cô Bình. Gà của cô Bình non, mềm hơn, hầm lá ngải hay luộc ngon lắm. Cô Bình dạy cấp 3 mấy hôm nữa con lên cấp 3 học cô nhé.
Chị Mây dạy Văn cấp 2 Trần Lãm. Nó dạy Văn cấp 3. Chị ở làng và dạy ở đây cũng nhiều năm rồi nên ai cũng biết và yêu quý chị. Nó thấy lạ, lần nào chị cũng giới thiệu ngọn ngành: “Của cô Bình đấy. Cô Bình dạy Văn cấp 3...”. Nhưng nhờ đó mà chả mấy chốc cả làng biết, trong khu tập thể có cô giáo trẻ, dạy văn cấp 3, xinh xinh. Và cứ có rau, có gà ra chợ, vèo cái là hết, theo cách nói của gen Y, gen Z bây giờ là “hết trong một nốt nhạc”.
Những ngày đi chợ cuối tuần như thế thường diễn ra chóng vánh, tầm 9h sáng là xong. Nó và chị lại đảo qua mấy hàng quen, mua cân vọp, quả cà chua, củ hành, rau thơm, rau diếp và không bao giờ quên ghé mua nón chè xanh cho cụ già ngồi tận cuối chợ. Nghe nói cụ góa bụa từ lúc ba mươi, ba lăm tuổi, chồng mất năm trước, năm sau, đứa con trai bị tai nạn mất sớm. Trên đường về, lại tạt qua mẹt khoai nhà bà Na, chị nhanh nhảu:
- Bác cho em củ khoai!
- Trưa rồi, về nấu cơm mua khoai làm gì! Chỉ còn mấy cái rãi khoai, củ to ngon hết rồi cô giáo ạ.
- Bác cứ bán cho em.
- Thôi! Cô cứ cầm về ăn đỡ!
- Không, em gửi bác!
Chị vừa nhặt mấy cái rãi khoai, vừa dúi đồng tiền vào tay bà Na. Nó không ăn khoai. Chị Mây biết nên hiếm khi mời. Chị thường cắt sạch hai đầu của khoai, lựa miếng giữa to nhất, đặt vào cái đĩa nhỏ, trịnh trọng mang sang cho mẹ thầy hiệu trưởng:
- Con mời bà, bé nhưng ngọt và mềm lắm bà ạ, không bị xơ.
Bà đón đĩa khoai, nhẩn nha ăn, vui vẻ lắm. Xong, chị lại nhắc con gái mang “Cốc chè xanh vừa lành vừa mát” mời bà. Trong khi đó, chị đã nấu xong nồi canh chua thơm phức, nó cũng làm xong rổ rau sống, con gái lớn chị pha xong bát nước chấm rau... Thêm mấy quả trứng tráng là có bữa trưa vui vẻ của khu tập thể.
Từ khu tập thể của nhà nó nhìn sang bên kia cầu ao là nhà ông Nuôi, Chủ nhiệm hợp tác xã. Bình thường, giặt giũ, hay tưới rau... hai bên vẫn vọng sang nói chuyện với nhau. Dãy tập thể của hai chị em nó thấp lè tè, nhỏ xíu “same same” gian phụ phía sau nhà ông Nuôi.
Ông Nuôi khá có quyền thế ở làng. Ngày ấy chị Mây rủ nó làm đơn gửi xã, gửi ông Nuôi xin cấp đất, dựng nhà. Nó không xin, nhưng chị được ông Nuôi tạo điều kiện, cứ xây lên ở... Khi nó đi Hà Nội về thì đã thấy nhà chị xây to, chắc chắn, có cổng và những bức tường hoa dài.
Nói về quyền thế của ông, nó nhớ như in cái đận ông giúp nó bán gà. Chả là, đợt ấy nó có chục con gà tầm 6-8 lạng một con, đang độ lớn, chị Mây hay đùa gọi là đám gà “vị thành niên”, ăn nhiều, chơi khỏe và lớn nhanh như thổi. Theo tính toán của chị, lứa này thắng lớn. Nó thích lắm, chưa nói ra, nhưng trong bụng đã nhẩm nhẩm, tính mua được nửa chỉ vàng, còn đâu sẽ mua quần áo, gạo thịt biếu hai mẹ và đặc biệt sẽ có khoản nho nhỏ mua cho bé Thư con chị Mây một con búp bê. Chị Mây đổi cho nó mượn cái lồng to để lũ gà đỡ bị chật chội. Mỗi chiều, chị đều cùng nó đón gà vào lồng, điểm danh từng con, đậy lồng gà bằng mảnh bao xác rắn. Chị bảo:
- Đậy vào tối cho gà nó ngủ mới mau lớn!
Hôm ấy là thứ Bảy cuối tuần, cũng như mọi ngày, tầm 7h tối nó dọn đồ vào phòng, trải một tấm lót gầm bàn, nhờ bé học sinh khiêng cái lồng gà mười con, khẽ khàng đặt vào gầm bàn, đậy mảnh bao xác rắn lên trên. Con bé học sinh lần đầu đến học với cô vào buổi tối, chả là sắp tới có kỳ thi học sinh giỏi của tỉnh, con bé là học sinh đội tuyển nên đến học kèm với cô. Cô trò ngồi học. Thỉnh thoảng, con bé bị muỗi đốt, hai chân cọ vào nhau gãi ngứa, không để ý, sục chân vào cái lồng gà, mảnh bao rách cứ đậy lên lại rơi xuống, lũ gà chiếp chiếp, xôn xao, một lúc thì chúng gần như thức hẳn, lạch sạch liên tục. Nó nhớ lời chị: “đậy vào tối cho gà ngủ mới mau lớn”, nó lấy hai mảnh áo mưa màu xanh đen quây kín lồng, phủ đến sát đất để ánh sáng không lọt vào, rồi lấy cái chậu tôn to đậy trùm lên trên để giữ cho mấy cái áo mưa không rơi xuống. Một lúc lũ gà ngủ yên, chỉ còn hai cô trò với cái đèn bàn tỏa sáng mờ mờ. Chiếc quạt con cóc để trên mặt bàn chỉ đủ mát mặt, mát tay, dưới gầm bàn, đàn gà đã ngủ yên nhưng bầy muỗi vẫn vo ve không chịu ngủ. Thương học trò, nó lấy cao xoa chân cho cô bé. Khoảng 12h đêm học trò làm bài xong, lên giường ngủ, nó ngồi chấm chữa cho cô bé xong cũng lên giường. Chưa bao giờ nó ngủ ngon đến thế.
Sáng Chủ nhật, chị Mây gọi cửa:
- Hai cô trò không dậy cho gà ăn à, gần 8h sáng rồi. Em có đi chợ không?
- Vâng ạ!
Nói dụi mắt, gọi học trò. Nó nhấc cái chậu tôn ra. Hai cô trò nó khiêng cái lồng gà ra ngoài. Lũ gà im thin thít. Chị Mây, giống như mọi ngày, cầm cái bát nhôm có ít thóc ra cho gà ăn. Nó mở lồng. Không có con gà nào chạy ra:
- Nó vẫn ngủ chị ạ! Chắc tại hôm qua đèn sáng chúng cũng không ngủ được!
Chị Mây ngồi xuống, tháo hai mảnh áo mưa vứt xuống bên cạnh, rồi nghiêng người lùa tay vào bên trong lồng gà kêu thất thanh:
- Ối trời ơi, nó chết hết rồi. Gà chết hết rồi em ơi! Em làm gì mà nó chết hết rồi?
- Em không làm gì ạ. Hai cô trò em học nên đèn sáng, em chỉ đậy kín vào cho khỏi sáng thôi ạ.
Chị Mây ngẩn người nhìn hai mảnh áo mưa màu xanh đen bên cạnh chiếc lồng:
- Trời ơi! chúng chết ngạt rồi!
Nó hoảng hồn. Nó sợ. Cảm giác như nó vừa giết người vậy.
- Làm thế nào bây giờ chị?
- Để chị xem nào?
Chị lôi từng con ra xếp cạnh nhau, lũ gà mềm oặt. Trông chết khiếp.
- Chị ơi, chị chôn nó giúp em. Em sợ lắm!
Rồi nó ôm mặt chạy vội ra mép vườn rau, phía bờ ao, ọe lấy ọe để, nước mắt nước mũi giàn giụa. Ngay bây giờ nhớ lại, cảm giác khiếp sợ và tội lỗi ấy vẫn còn nguyên vẹn.
- Sao lại chôn? Để chị xem, vẫn còn ấm, còn mềm, để chị làm thịt, bán, không sao!
- Thôi chị ơi! Em kinh lắm. Em không làm được đâu.
- Để chị làm! Bán được bao nhiêu thì bán còn đâu thì ăn. Em đun nước đi. Đun bếp trấu cho nhanh. Lấy cái nồi to bên nhà chị ấy. Hạnh ơi! Lấy cái xoong to cho cô.
Rồi chị thoăn thoắt cầm dao, gọi nó ra giúp chị cắt tiết. Chị bảo:
- Cắt tiết nhanh, được tiết thì không bị đen thịt.
Nó trốn vào bếp đun nước, tuyệt đối không dám ra nhìn chứ đừng nói là cắt tiết, cũng không dám làm lông. Chị làm xong, chỉ cái rổ to với chục con gà trắng tinh sạch sẽ, tự bảo:
- Chị lấy hộ cô hai con, con Hạnh mang ra chợ bán với cô!
- Chị ơi! Em không bán đâu. Em sợ lắm.
- Gà chết ngạt chứ có bệnh tật gì đâu. Bán rẻ, gỡ được đồng nào tốt đồng ấy.
Nó im lặng. Nó không dám làm, không dám nhìn và tất nhiên càng không dám bán, kiểu sợ bán gà chết ấy. Chị Mây nhìn rổ gà:
- Đi, để tôi, Hạnh đi với mẹ.
Phía bên kia cầu ao, bà vợ ông chủ nhiệm đang rửa rau, phía trên, ông chủ nhiệm đang cho hai con bò ăn cỏ. Chị xách mỗi tay hai con gà dốc ngược giơ lên, gọi vọng sang:
- Bác Nuôi ơi, có ăn gà không? Gà ngon lắm! Em làm sạch sẽ rồi. Hầm ngải cứu thì ngon phải biết.
- Sao có gà sớm thế? Mà sao gà bé thế đã bán?
Rồi bờ bên này kể cho bờ bên kia nghe sự tình mấy con gà. Nó trốn trong phòng vì xấu hổ, vẫn chõ ra bảo chị:
- Chị ơi thôi đừng bán, cho bác ấy hết đi ạ.
- Sao lại cho?
Chị quay vào nghiến nó rồi lại vọng sang:
- Bác lấy cả đi, 30 ngàn một con, không ăn hết bác để cho mấy nhà bên cạnh ấy. (30 ngàn là nó bịa ra áng chừng đại loại như bây giờ con gà 100 ngàn thì chị ấy bảo 30 ngàn thôi, chứ thực ra không còn nhớ được giá cả ngày ấy như thế nào).
- Khổ thân! Chết hết à? Bê sang đây xem nào! Để tôi bảo mấy đứa nó mua cho, Chủ nhật, mỗi nhà một đôi liên hoan.
Ông chủ nhiệm thương hại. Chị Mây được lời như cởi tấm lòng, bê rổ gà vòng qua phía bên kia bờ ao. Một lúc chị về, đếm cho nó mấy chục bạc rồi kể:
- Biếu ông Nuôi một đôi; Nhà A, B mỗi nhà một con, nhà D. hai con, hôm nay bên đấy họp gia đình, nhà E một con, chị hai con, để lại cho em một con. Ngon lắm, không sao đâu.
Nó cầm tiền nhưng vẫn không dám nhận gà:
- Thôi, em sợ lắm, em không ăn gà chết đâu ạ.
Chị ngần ngừ:
- Thôi để chị làm luôn, lát biếu bà một ít.
- Vâng ạ!
Nó như trút được gánh nặng.
Bao nhiêu năm nay, cứ nhớ về Đình Cả, nó lại nhớ và chưa bao giờ hết thương lũ gà ấy, cũng chưa bao giờ cất được cảm giác tội lỗi và sợ hãi. Sau đận ấy, nó không bao giờ nuôi gà nữa, cũng chưa bao giờ dám giết gà. Có thời gian rất dài nó còn không dám ăn gà... Bây giờ thì bình thường rồi.
Đình Cả với nó không chỉ là nơi bắt đầu sự nghiệp dạy học, còn là nơi nó có thêm một người chị gái thật sự nhân từ, bao dung luôn sẵn sàng gánh vác và chở che cho nó. Suốt mấy chục năm lập nghiệp ở Hà Nội, mỗi lần về quê, nó đều đến thăm chị, cho đến khi chị mất. Chị mất vì ung thư sau khi nỗ lực từ hai bàn tay trắng gây dựng cho các con nhà đất, sự nghiệp. Con gái, con trai chị đều trưởng thành. Trên cả sự ngưỡng mộ, nó yêu chị như chị gái của gia đình.
Bài học về sự sẻ chia, hết lòng chở che người yếu thế là nó học từ chị.



