
- Trang văn

Chị Cả - lam lũ, cam chịu, lấy nhẫn làm đầu
Chủ nhật - 12/07/2026 08:47

(Ảnh: Pixabay)
CHỊ CẢ - LAM LŨ, CAM CHỊU, LẤY NHẪN LÀM ĐẦU
(Thanh Bình)
Nhà có năm chị em gái.
Chị cả 1955, mới qua tuổi 70.
Chị hai 1958, đợi thêm hai năm nữa mới vào thất thập cổ lai hy.
Nó 60++, em liền kề kém ba tuổi, em út 1972, 50+, thua chị cả mười sáu năm, kém chị hai mười bốn tuổi, kém nó bảy năm và thua chị liền kề bốn tuổi.
Năm chị em một mẹ, một nhà, nhưng thực ra là cách nhau cả một thế hệ.
Chị cả là người tốt bụng đến nhẹ dạ. Mẹ toàn bảo chị “khôn nhà dại chợ”, ruột để ngoài da, lúc nào cũng hể hả hết lo cho các em lại lo cho bạn bè. Nó nhớ ngày ba mẹ đi Lai Châu hỏi cưới cho anh trai cả. Sáng đầu tiên ba mẹ xa nhà, chị cả mời về nhà một đám bạn. Chị làm một nồi mì sợi nấu cà chua và rau muống. Nồi to vật vã. Chị nó bê lên nóc bể nước mưa mái bằng xi măng cứng, cả chục đứa bạn học, cùng với chị em nó, mười mấy cái đầu,
xì xụp một bữa no nê. Nó không bao giờ quên bữa no hôm ấy: không gian, địa điểm, thời gian và cảm giác sung sướng còn mãi đến sau này. Nó cũng nhớ, vì ngây thơ, nó khoe với ba mẹ, nên chị bị ăn trận đòn nhừ tử vì tiền rau cả tuần, lượng mì cả tháng của gia đình, chị nó mời bạn bè gọn gàng trong một bữa.
Chị cả đảm đang và thương yêu các em. Ba mẹ bận việc, chị là người nấu cơm, rửa bát, quét nhà và tắm giặt cho các em. Đôi khi, chị giống như “chị mẹ”. Nó sổ mũi nhức đầu, chị lôi ra đánh cảm, người ngợm cứ gọi là tím lịm. Có lần đau quá, lại tím nhiều nốt ở mặt, nó tức dỗi chị bỏ sang nhà bạn thân bên Hoàng Diệu (xã liền kề thị xã) ở mấy hôm. Cả nhà nháo nhác đi tìm. Ba ra lệnh: Nó chưa về, chị không được ăn cơm...
Nó nhớ đêm đầu tiên ba mẹ đi Lai Châu, con em út nhớ mẹ khóc không dứt, chỉ có chị nghĩ ra cách, vo vo cái áo cũ của mẹ đưa cho em út ôm ôm ngửi ngửi, nó mới chịu ngủ.
Chị cả có thời thanh niên sôi nổi với công tác phụ trách Đội thiếu niên Tổ 14, 15 phường Đề Thám, thị xã Thái Bình. Vào dịp hè, mỗi ngày, sau bữa cơm chiều, tầm 7h tối là chị vào vai phụ trách. Nó còn nhỏ, nên là đội viên trong Chi đội thiếu niên do chị quản lý. Chị xinh đẹp, dịu dàng với bím tóc đuôi sam, thường có một cái cặp lá, cặp ngay phía trên trán, cổ đeo một chiếc còi kiểu rất sành điệu. Chị nhiệt tình và quan tâm đến từng em bé. Rất nhiều năng lượng khi dẫn đầu đội thiếu nhi rồng rắn diễu hành quanh xóm, vừa đi vừa gõ trống, vừa hát. Đó là cách chị gọi các em đi sinh hoạt đội. Khi đông đủ, thường được khoảng hai mươi đứa lau nhau với hai nhóm tuổi từ 7-10 đến 11 -15 tuổi.
Điểm tập kết thường ở hè phố mặt đường Lê Lợi, trục đường trung tâm thị xã, cách nhà nó chừng 200m. Chị thổi còi. Cô gái mười tám, đôi mươi khỏe mạnh nên tiếng còi đầy đặn, đủ cao, đủ dài. Tiếng còi dứt là lũ lau nhau cũng tự giác xếp thành hàng ngay ngắn, rồi ngồi xuống theo cái vẫy tay ra hiệu của chị. Đó là lúc phổ biến nội dung sinh hoạt và chia nhóm, tổ chức trò chơi hoặc tập tành văn nghệ, thể thao (chủ yếu là đá cầu, cầu lông). Chị biết nhiều điệu múa và múa rất dẻo.
Nó nhớ những tối mùa hè, những buổi sinh hoạt đơn sơ, bên hè phố hay trong con ngõ nhỏ, chỉ cần có một khoảng trống đủ cho mươi, mười lăm đứa trẻ quây quần là được. Ngày ấy đường phố vắng, ít xe đạp, người dân chưa có ô tô, xe máy như bây giờ nên đó là điểm tập trung lý tưởng vì rộng và sáng, ánh sáng mờ mờ hắt ra từ mấy cửa hiệu và gia đình giàu có ngoài mặt phố. Chị nó mười lăm, mười sáu thì nó lên năm, lên sáu, thành ra nó đi sinh hoạt thiếu nhi với chị từ thuở vỡ lòng. Điệu múa hoa Chăm-pa nó được chị dạy từ bé xíu như vậy, mỗi năm thêm một, thêm hai động tác mới, đến khi chị nó mười tám, hai mươi, điệu hoa Chăm-pa cũng vào độ nhuyễn.
Nó hát hay, biết đọc diễn cảm nên trở thành hạt nhân nòng cốt của “Đội chào mừng”, do chị Lan Tổng phụ trách và chị nó cùng đồng hành. “Đội chào mừng” gồm các bé gái, bé trai xinh đẹp, kháu khỉnh và ngoan (tức là biết nghe lời, luôn nền nếp). Mỗi khi tỉnh hay thị xã hay phường Đề Thám có đại hội hay hội nghị là đội của nó được triệu tập lên Nhà Văn hóa thị xã để tập luyện. Nhà Văn hóa có chú Minh đàn Piano rất hay. Chú thường đệm đàn và dạy cho chúng nó một, hai bài hát tập thể, cứ mỗi năm lại có một bài mới để hát chào mừng đại hội hoặc hội nghị. Chương trình chào mừng thường ngay sau chào cờ. Chúng nó xếp hai hàng, hàng nữ diện váy trắng hoặc váy hồng, hàng nam diện áo trắng với quần sooc. Hầu hết thời gian tham gia “Đội chào mừng” từ lớp Hai đến lớp Bảy (ngày xưa học hệ mười năm) nó làm đội trưởng. Nó ấn tượng và nhớ nhất bộ váy xòe màu trắng, màu hồng được các chị chuẩn bị cho nó vào dịp đó. Ngoài ra, bao giờ chị cũng chuẩn bị riêng cho nó một cái nơ bằng voan khiến nó luôn nổi bật nhất. Nó được chọn đại diện đọc lời chào mừng, lĩnh xướng khi hát đồng ca, tốp ca. Lời chào mừng các chị viết sẵn, nó tập đi tập lại đến thuộc làu làu, nhưng khi đọc, chị luôn cẩn thận chuẩn bị cho nó cái kẹp giấy, bên trong có bài phát biểu viết tay chữ to và rõ ràng từng dấu chấm, chấm than, dấu phẩy, các ký hiệu mũi tên hất lên hay chúi xuống để nó lưu ý ngắt nghỉ, lên giọng, xuống giọng...
Mỗi mùa hè đều có hội thi văn nghệ giữa các phường. Nhà nó ở phường Đề Thám, chị Lan và chị nó đều hát hay, múa giỏi. Chị Lan cũng có em gái là bạn Phương học cùng nó. Hai đứa luôn là thành viên của đội văn nghệ thiếu nhi phường tham gia thi, đạt giải rồi lại đem tiết mục đạt giải đi trình diễn báo cáo cấp thị xã, cấp tỉnh. Mỗi lần đi biểu diễn, nó luôn vào đủ hai vai: MC nhí và diễn viên nhí. Tiết mục múa để đời chính là điệu hoa Chăm-pa chị dạy nó. Mà lạ, năm nào các bác, các cô chú cũng xem, cũng chấm mà năm nào nó cũng được giải, giải đặc biệt hoặc giải nhất. Nên hè đến là nó cứ phơi phới: được chơi, được mặc đẹp, được khoe giọng đọc, khoe hát hay, múa giỏi và đặc biệt là được tự tin, tự hào bước lên bục nhận giải trong tiếng vỗ tay rào rào của khán giả.
Nó nhớ những lần cùng đội thiếu niên theo chị cắm trại ở sân vận động hay vườn hoa thị xã. Nó nhớ những lần được chọn vào đội thiếu niên tiêu biểu của thị xã cùng các đội tiêu biểu ở các huyện đi cắm trại ở Đồng Châu, Tiền Hải (1975); đi thăm Lăng Bác Hồ (1976); thăm Vườn Bách Thảo Hà Nội (1977)... Nó được học cách thắt nút dây cọc, cách trang trí trại (bao giờ cũng có một bàn nhỏ chính giữa, phía trên có ảnh Bác Hồ, có lọ hoa tươi, có diềm hoa ở cửa trại, cổng hoa với dây cờ dẫn lối vào trại...); học cách đánh dấu và tìm mật thư, học đội ngũ và làm việc nhóm, làm quen với việc chuẩn bị đồ dùng và bữa ăn mang đi dã ngoại trong ngày...
Lên cấp 3, nó đã có thể tự tin, tự lập, trở thành lớp trưởng, làm phát thanh viên chương trình “Tiếng nói học sinh trường Lê Quý Đôn”, làm đội trưởng đội văn nghệ của lớp, của trường. Nó nhớ những giờ giải lao mười lăm phút, nó lao ra cửa lớp lên khu vực phát thanh ở tầng 1 dãy nhà hiệu bộ. Phòng phát thanh đơn sơ một micro, nối ra hai cái loa to chĩa về hai phía nơi có hai dãy nhà tầng là nhà học. Ở đó, khi nó cất tiếng: “Đây là buổi phát thanh của Trường Phổ thông trung học Lê Quý Đôn”, các bạn học sinh ra ngoài hành lang, hướng về phía nó, nơi phát thanh viên đang nói, đang hát. Mười lăm phút mỗi ngày, hân hoan và vinh dự lắm. Nó vô cùng hãnh diện thấy ánh mắt thầy cô bạn bè
nhìn nó trầm trồ. Nó nhớ những lúc dời phòng phát thanh về lớp, lúc đi lên cầu thang ở chỗ chiếu nghỉ, mấy đứa bạn lớp bên nói nhỏ: giọng hay thế, mắt nâu kìa... Nó cứ ngượng đỏ mặt im lặng đi qua chẳng dám nhìn, chẳng dám quay lại mỉm cười, trò chuyện hài hước như bây giờ. Tất cả sự tự tin ấy đều nhờ chị dắt từ lúc mầm non.
Nó nhớ năm lớp Mười (tương đương lớp Mười Hai bây giờ) nó cùng các bạn có buổi biểu diễn và tháng 3 năm 1982. Đây là lần hội diễn toàn trường, với nó là kỷ niệm ra trường năm cuối cấp. Nó và đứa bạn thân song ca bài “Cung đàn mùa xuân”. Buổi trưa tan học, đứa bạn thân và nó hay nằm gác chân lên cửa sổ tập hát, rồi đứng lên giường, giả bộ trên sân khấu biểu diễn. Chính chị đã dạy cho chúng nó biểu diễn đoạn “Em nâng mầm trổ, anh trút nắng vàng”. Hồi ấy, bạn thân nó hát lời của “em”, nó hát lời của “anh”. Nhưng nó thấy động tác tay búp măng vươn lên “nâng mầm trổ” đẹp quá, giống hệt một động tác trong bài hoa Chăm-pa nó từng múa, nên khi biểu diễn nó vẫn vừa “nâng mầm trổ” vừa “trút nắng vàng” cùng đứa bạn. Hôm ấy nó đơn ca bài “Mưa tháng Ba”. Đó là bài hát chị chọn cho nó. Chị bảo: “Hội diễn tháng ba em cũng sinh tháng ba, mỗi câu ngắn vừa hơi, trong trẻo, hát bài này quá hợp với em”. Thế là nó nghe chị học hát, học thêm mấy động tác tay minh họa. Hôm duyệt, thầy bí thư đoàn trường đồng ý ngay. Thế là biểu diễn.
Nó ngây thơ, đến tận hôm biểu diễn vẫn chỉ nghĩ mặc đồng phục áo trắng, quần phăng (quần âu kiểu may như quần bộ đội) - bộ quần áo mà nó vẫn mặc đi học. Chiều tối, chị nó trang điểm cho nó chút phấn rôm và tí son gió, song, ngắm nghía:
- Không được, áo cháo lòng quá, quần rộng thùng thình.
Trong lúc nó cứ như thế đến trường. Nó phải đến sớm vì nó còn làm MC nữa, thì chị nó chạy bộ, ngược đường đến nhà chị Thủy bạn thân của chị ở khu nhà bốn tầng (bây giờ là khu chung cư cao cấp của thành phố), mượn cho nó bộ quần áo: Một sơ mi trắng muốt, có dải nơ dài thắt vào hình bông hoa và một chiếc quần bò màu xanh. Rồi chị nó hơ hải cầm đến trường, chạy vào phía sau sân khấu, đợi đến tiết mục nó biểu diễn thì giúp nó thay quần áo. Nó vừa xuất hiện, bên dưới tiếng vỗ tay rào rào. Vẫn là nó, chỉ là thay một bộ quần áo khác, mà không khí đêm diễn khác hẳn. Hôm ấy, nó không nghe được giọng mình hát nhưng nó nhớ cảm giác hạnh phúc khi được mọi người cổ vũ, cứ lắng nghe rồi ào lên dữ dội. Ngày ấy mà có ánh đèn điện thoại như bây giờ chắc chắn nó cũng sẽ có nhiều fan bật đèn soi đi soi lại cổ vũ, chắc chắn cũng để lại nhiều ảnh và video đẹp trên facebook, zalo... Nó nhớ lúc ấy, nó khỏe khoắn, xinh tươi, tự tin đến nó cũng thấy lạ. Năm 2022, kỷ niệm bốn mươi năm ra trường, có mấy bạn trai, bạn gái ở các lớp khác, còn bảo nó: Bạn hát lại “Mưa tháng Ba” đi. Nó muốn hát nhưng tìm trong youtube mãi không thấy lời, không có nhạc nên hát chay mấy câu tặng các bạn.
Chuyến đi Hà Nội đầu tiên trong đời nó là đi cùng chị, cắm trại tại vườn Bách Thảo. Nó nhớ chuyến đi ấy, nó ngủ trưa cùng các bạn và chị Lan tổng phụ trách phường Đề Thám, lúc dậy, không thấy chị đâu, nó khóc ăn vạ cả tiếng đồng hồ, cho đến khi chị quay lại. Nó sợ mất chị. Sau này mới biết, ngày ấy chị đã biết hẹn hò. Chị tranh thủ lên doanh trại quân đội gần dốc chợ Bưởi với mối tình đầu của mình.
Hồi trẻ, chị khá xinh, da trắng, tóc dày và dài ngang lưng, mặt bầu bĩnh, cộng thêm giọng nói như chim hót, nên rất nhiều người theo đuổi. Chị cả vốn là điện báo viên và trực tổng đài bưu điện tỉnh. Cái thời chưa có điện thoại gia đình, càng không có điện thoại di động, một điện báo viên vô cùng quan trọng. Chị trẻ, có giọng nói hay như phát thanh viên nên còn tham gia trực tổng đài. Giọng nói ngọt ngào, thánh thót: “Điện thoại viên Thanh Tâm xin nghe” trở thành thương hiệu một thời của chị.
Lúc các anh đến “cưa” chị, nó còn đang học cấp 2, cấp 3. Mỗi tối, chỉ cần nghe tiếng xích cổng lách cách, đều hiểu đó là khách của chị. Nhà có con gái lớn, nhộn nhịp lắm. Mỗi lần nhà có khách, mấy chị em gái cứ im im ngồi ôm nón khâu, nhưng mắt vẫn hấp háy tò mò quan sát chị. Nó nhớ anh Tuất, anh Duy làm cán bộ tổng hợp Công an tỉnh, anh Nho sĩ quan quân đội, nhà ở Sa Cát, Đông Hưng, làm việc gần dốc chợ Bưởi, Hà Nội, và nhiều anh chàng đẹp trai khác. Các anh đến chơi, là chị em nó có quà, dăm cái kẹo hay nải chuối, quả mít quà từ vườn quê nhà các anh.
Nhiều năm sau, khi nó lên học đại học, mối tình đầu của chị ra trường đón nó về doanh trại chơi, đãi cơm nhà bếp. Nó không nhớ bữa cơm đó ăn gì, nhưng nó nhớ, ngày ấy anh đón nó bằng chiếc cúp đèn tròn, ghế rời bằng sắt (hình như cúp 80). Nó gái quê chính hiệu, tuổi mười tám đôi mươi, có tí dở người, dù anh hướng dẫn, vẫn cương quyết không chịu ngồi dang chân hai bên, mà chọn vắt chéo ở ghế sau, cheo leo tận đuôi xe, kiểu “nam nữ thụ thụ bất thân”. Ngày ấy đường đá lổn nhổn, lạo xạo, đoạn xuống dốc chuẩn bị rẽ vào doanh trại hẹp, nhiều sống, gồ ghề. Cái ghế sắt trơn, khiến nó cứ trật trẹo ở sau anh. Bất chợt, xe phanh gấp, nó trượt ngay xuống đất xây sát chân tay, bị anh mắng. Lúc lên lại, anh bảo, ngồi vắt chân sang hai bên, cầm tay nó đặt vào eo của anh, bảo bám chặt vào. Nó “vâng ạ” nhưng vẫn từ từ rút tay bám xuống ghế sắt. Nhiều năm sau, khi chị đã cưới chồng, sinh con, khi nó đã về làm ở Bộ Giáo dục và Đào tạo, anh cùng vợ vẫn qua nhà nó ở Bùi Ngọc Dương chơi Tết. Anh mặc comple cà vạt, chị vợ áo dài guốc nhọn. Nó nhìn anh chị nửa ngưỡng mộ, nửa ngậm ngùi, xót xa cho chị.
Chị nó không may mắn. Sau mối tình đầu không thành do xa cách, có nhiều đám tìm hiểu, đều là cán bộ nhà nước, có lương, có sổ gạo và tem phiếu, nhưng không hiểu vì sao không nên duyên. Ba mẹ nhiều lần khuyên nhủ, “gái có thì, đừng kén cá chọn canh” nhưng chị không thực sự yêu ai. Rồi chị được phân công biệt phái đi công tác ở huyện Thái Thụy 6 tháng để đào tạo điện báo viên cho tuyến huyện. Bưu điện huyện gần doanh trại quân đội, chị phải lòng một anh bộ đội nghĩa vụ, kém chị mấy tuổi. Hai nhà gặp mặt kết giao, cưới hỏi nhẹ nhàng. Đoàn nhà trai chừng chục người, với bên nhà gái hơn chục nữa, những năm 80 cũng là giản dị, ấm áp. Lâu không nhìn lại ảnh, nhưng nó vẫn nhớ như in khuôn mặt của mẹ anh ấy. Thật kỳ lạ, cả đoàn đông, nó chỉ nhớ mặt bà, nhớ luôn cả cái áo trắng phớt hồng bà mặc.
Rồi anh xuất ngũ. Anh lên thị xã ở cùng chị tại khu tập thể Bưu điện Tỉnh. Anh chị sinh con trai. Nó là người đưa chị vào viện, cùng chị đón cháu. Thằng bé vừa sinh ra đã rất đẹp, chị cưng như cục vàng. Nhiều năm sau đó nó sát cánh với chị, chăm cháu như con. Hai vợ chồng chị và con nhỏ chung nhau một đồng lương viên chức, thời bao cấp, thật sự vô cùng khó khăn. Buổi tối và ngày cuối tuần, chị dọn thêm hàng nước ở ngay trước cửa bưu điện, bán cốc chè xanh, viên kẹo lạc, tùy mùa thêm đĩa mận, chùm vải, nải chuối, đĩa lạc luộc, trứng luộc. Mùa đông, chị có chậu than hồng nướng ngô, khoai thêm khách sưởi ấm hút điếu thuốc lào. Vì con, cô thanh nữ “vạn người mê”, cứ thế, từ từ trở thành người mẹ tần tảo, có phần lam lũ. Vất vả nhưng chị không để chồng con thiếu ăn, thiếu mặc. Chị chăm chồng, chiều con. Về miếng ăn, cái mặc, đồ chơi, cu con không hề thua kém đám con nhà cán bộ nòi của Ty Bưu điện.
Chồng chị không quen công việc, nên quanh quẩn trong căn nhà tập thể chừng mười mét vuông với cu con. Anh cứ trẻ ra, đẹp lên. Chị ngược lại, sinh xong không được nghỉ ngơi, sớm bươn trải nên già hơn. Anh rỗi rãi, sinh buồn, lâu lâu lại chạy về với ông bà dưới Thái Thụy. Mới đầu chỉ về thăm nhà vài hôm, khi lên xách theo chút đồ quê. Sau về lâu hơn. Có lần về luôn cả tháng. Ở quê, nhà lớn, vườn rộng quen thuộc, thoải mái. Anh con một, muốn chị về quê, nhưng chị không biết việc nhà nông lại đang có công việc và chế độ tốt cho mẹ và con, không muốn bỏ việc. Thế rồi, cứ xa dần. Ngày cưới hỏi, anh chị vội sinh con, lần khân chưa đăng ký. Anh về quê hơn năm thì đánh tiếng với chị, lấy vợ quê. Người lớn hai bên có đi lại bàn bạc, nhưng anh vẫn chọn cưới cô thôn nữ láng giềng, bám quê, lo nhà thờ họ. Chị lẳng lặng tần tảo nuôi con từ ấy. Cũng có dạo, anh quay trở lại, vì muốn giữ cu con, đích tôn của gia đình, nhưng con đã quá lớn và không còn quen bố nữa... Những năm ấy, chị em đều nghèo, thương nhau, nhiều lần nó ghé vai giúp chị nhưng không thành. Ốc không mang nổi mình ốc, sao còn làm cọc cho rêu được.
Chị ở vậy nuôi con, theo con mấy chục năm trời. Cô thanh nữ xinh đẹp, giỏi giang, nhiệt huyết, chăm chỉ đến lam lũ, nay đã
về già. Ở tuổi 72, lưng chị đã còng, bụng xệ, đi bộ chậm chạp nhưng vẫn kiên trì cùng chiếc xe máy mưu sinh. Trộm vía, hai đứa cháu trai, cao ráo, đẹp trai giống bố, đứa trước đứa sau, đứa lên lớp Mười một, đứa đang vào kỳ thi tuyển vào trung học phổ thông thành phố. Bộ ảnh xin dâu của chị, ba vẫn gói ghém, giữ gìn cẩn thận, trao lại cho mẹ. Mẹ đi trao lại cho chị và anh chị em, dặn dò: “Nhớ giữ kỹ cho các cháu”.
Mỗi bức ảnh là một câu chuyện, chị Cả và các em vẫn đang viết tiếp và lưu giữ kỷ niệm cho các cháu, như cách ba mẹ lưu giữ cho chị.



