• dau-title
  • Truyện ngắn
  • cuoi-title

Ông tôi

Thứ tư - 13/05/2026 16:05



(Ảnh: Kim Anh)


ÔNG TÔI


“Hôm nay là lần giỗ thứ 42 của bà. Bà về phù hộ độ trì cho các con, các cháu được ăn ra làm nên, khôn lớn trưởng thành, bà tha lỗi cho tôi, ngày ấy tôi thật là một người chồng nhẫn tâm, để bà phải sống cuộc sống khốn khổ, phải lìa bỏ cái đời này mà đi. Nay cuộc sống ấm no, thì bà không còn sống để mà mở mày, mở mặt với đời. Tôi hối hận vô cùng nhưng biết đã muộn rồi, suốt 42 năm qua, tôi đã thay bà chăm lo dạy dỗ cho các con, nay đã có dâu, có rể, có cháu nội, cháu ngoại. Bà về họp mặt với con cháu bên lưng cơm muối bà ơi!”

Ông tôi rì rầm khấn, vái ba vái trước bàn thờ bà tôi rồi quay trở ra. Chòm râu bạc trắng như cước của ông khẽ rung rung xúc động. Hai giọt nước từ trong hốc mắt sâu thẳm trào ra lăn dài trên gò má răn reo của ông. Những giọt nước mắt hiếm hoi lần đầu tiên tôi thấy đã dâng lên trong lòng tôi một nỗi xúc động. Chúng tôi theo ông ra gian nhà ngoài. Ông ngồi xuống ghế xa-lông còn chúng tôi quây quần bên cạnh. Lạ quá khác hẳn mọi hôm, không cười nói chuyện trò ông tôi ngồi im lặng đưa mắt nhìn cái tủ nằm với những đồ trang trí rất đẹp, với 2 cái giường mô-đéc véc-ni bóng loáng. Rồi ông đưa mắt nhìn như hút vào đống xe đạp, xe máy lỉnh kỉnh của các con, các cháu. Mắt ông sáng lên những tia ngạc nhiên rồi tối sầm lại. Thấy tâm trạng của ông lạ quá, tôi thỏ thẻ:

- Ông ơi! Sao ông lại khóc? Hôm nay ông làm sao thế?

Ông tôi ôm tôi vào lòng, âu yếm xoa đầu và bảo:

- Cháu ạ! Chả là hôm nay cả nhà sum họp đầy đủ, ông thấy sung sướng bao nhiêu thì khi nghĩ đến bà với cuộc sống tủi nhục năm xưa ông lại thấy xót xa hối hận bấy nhiêu. Bà các cháu khổ cực trăm đường, lấy chồng với bao nỗi lo toan, gánh vác đều chồng chất lên đôi vai gầy yếu mảnh khảnh của bà. Bà là một người vợ hiền, tần tảo, chịu thương, chịu khó.

Ông còn nhớ ngày mẹ ông (tức cụ các cháu) mang trầu cau sang quyến bà cháu về làm dâu bên này. Ngày ấy bà mới 15 tuổi, ngây thơ, nhút nhát và hiền dịu lắm. Bà có nét đẹp duyên dáng, thầm kín của người con gái quê mùa. Nhiều người định xin bà cho con mình nên thấy ông lấy được bà thì cho là tốt số.

Rồi những ngày son rỗi, tươi trẻ ấy cũng nhanh chóng trôi đi, dành lại cho bà cuộc sống bận bịu giữa bầy con thơ và bố mẹ chồng già. Bà thức khuya dậy sớm, làm lụng vất vả để nuôi cả nhà, kiếm tiền chạy chữa thuốc thang cho bố mẹ. Còn ông thì không hề để ý lo toan đến việc nhà, cậy có bà vợ đảm đang, suốt ngày ông chỉ ngồi bên sòng bạc, đánh tổ tôm và hút thuốc phiện...

Hai cụ lần lượt qua đời, ông nắm toàn quyền trong nhà, tài sản bao nhiêu ông bỏ túi, đánh bạc dần. Vợ con ông bắt đầu khốn khổ, đói khát, phải ăn rau, cám qua ngày. Bà bé choắt người lại, gầy yếu xanh xao, suốt ngày mò cua bắt hến lại nhặt nhạnh chè lá bán lấy vài hào đong gạo cho con ăn. Nhưng ngày ấy, mải cay cú với những ván bài tổ tôm đen đỏ ông đâu có để ý đến cảnh sống cơ hàn của vợ con. Cả món tiền bố mẹ để lại đều bị nướng cháy trong những ván tổ tôm khốn kiếp ấy. Nhưng khốn nỗi, cái món cờ bạc càng đánh càng say, càng thua càng cay cú. Khi đã nhẵn tiền ông cứ nghĩ: “giá bây giờ còn tiền nhất định mình sẽ phải gỡ lại số đã mất”. Và rồi ông về hạch vợ lấy những đồng tiền cuối cùng do chính vợ miệt mài tần tảo làm ra, để đi đến sòng bạc. Trong lúc ông mải mê với sự ăn thua đen đỏ thì ở nhà, 5 đứa con lóc nhóc nằm đói lả, mắt dại đi, chờ u nó cho cái gì ăn.

Còn bà, lúc bấy giờ chỉ biết nhìn con lặng lẽ khóc thầm, bà đã tuyệt vọng trước người chồng nghiện ngập, say cờ bạc đến bệnh hoạn của mình. Bà đã hết cách xoay xở, kiếm tìm cái ăn cho con, cứ như thế bà kiệt quệ dần. Ông thì vẫn cứ thua bạc liên lục, hết từng đồng, từng hào, từng xu rồi hết sạch sành sanh. Hết tiền, ông bị người ta đuổi ra khỏi sới, người ta khinh rẻ ra mặt, chẳng khác khinh một con chó. Ông nhớ tới những hôm đầu khi mình mang đến sòng bạc một khoản tiền lớn, bọn chúng nó đã ve vuốt, nịnh nọt tâng bốc ông, vậy mà giờ đây... Ông cay đắng nghĩ đến cái mặt tráo trở và quyết định sẽ làm chúng biết tay.

Mùa gặt đến, vợ và con ông ra đồng gặt về được vài thúng lúa ông không cho ăn mà đem gọi người đến bán để lấy tiền ra ngồi sòng bạc. Ông không hề để ý đến nỗi khổ của vợ con bởi lẽ tất cả tâm trí ông đều hướng cả về sòng bạc. Đã có đôi lần bà khuyên nhủ ông, nên quay trở về làm ăn cho vợ con đỡ khổ nhưng ông gạt phắt đi. Lần thứ hai, ông nổi trận lôi đình, quát tháo ầm ĩ. Thế là từ đó, ông không còn thấy bà dám góp ý, khuyên bảo mình nữa. Cũng từ đó ông thấy bà cứ nhất nhất làm theo mọi sự sai bảo của ông, làm được đồng hào nào đều phải đưa cho ông cầm chứ không dám mua gạo về nuôi con. Mùa về, thóc phơi khô, sảy sạch ông lại gọi người đến bán dần, bán dần để đến tổ tôm. Khi đã cháy túi, ông thất thểu ra về. Về đến nhà ông ngửi thấy mùi cơm, người cứ tỉnh ra. Ông lạ quá khi thấy cu Nhớn (là bố cháu bây giờ) lễ mễ bưng đến cho ông một bát cơm đầy, vẻ mặt hoan hỉ. Mặc dù đói lắm nhưng ông không ăn ngay mà quay sang hỏi bà:

- U nó lấy gạo đâu mà thổi cơm thế này?

Bà run run như người mắc lỗi, ngước mắt nhìn trộm ông và nói như phân bua:

- Tôi bòn được mấy hào chè, mua lẻ gạo về cho thầy nó với con ăn cho đỡ đói. Mấy tuần nay nhà đã được ngửi thấy hơi cơm đâu.

Một giọt nước mắt rơi xuống, lăn dài trên gò má xanh xao của bà.

Nghe bà nói ông cúi xuống ăn bát cơm. Ăn đến đâu thấy tỉnh táo đến đấy... Lấy được mấy hào bạc của bà ông lại lầm lũi đi đến sòng bạc và ở đó suốt một ngày một đêm. Đêm ấy vào khoảng nửa đêm, khi ông đang ngồi chầu rìa, say sưa theo dõi canh bạc thì cu Nhớn với cái Tý vừa khóc vừa mếu máo chạy vào:

- Thầy ơi! Thầy về ngay! U con sắp chết, thầy ơi!

Ông lập cập xỏ đôi guốc mộc rồi theo lũ trẻ về nhà. Trong căn nhà im ắng, ngọn đèn dầu cháy leo lét, tỏa ánh sáng mờ ảo. Mấy đứa trẻ ọ, ẹ kêu đói chúng nó không hiểu được rằng u sắp chết. Ông lần vào cái phản, đã thấy bà nằm đó, khuôn mặt xanh xao vàng vọt, người đét lại như dán xuống mặt phản.

Hơi thở ngắt quãng, hai tay gầy guộc quờ quờ như tìm kiếm, níu giữ một vật gì, bà vẫy tay ra hiệu cho ông ngồi xuống, nói thều thào:

- Tôi chết! Thầy nó gắng nuôi con thay tôi, đừng để đời chúng nó phải khổ như đời tôi. Trong chuồng trấu có mấy đấu thóc tôi xúc trộm ông đổ vào đó để thỉnh thoảng giã nấu cho con nó ăn. Tôi mong ông tha tội cho tôi.

Nói rồi đôi mắt của bà vĩnh viễn nhắm lại, ông lấy chiếu đắp lại rồi buồn bã quay trở ra. Cu Nhớn với cái Tý khóc òa lên, nói trong tiếng nấc nghẹn ngào:

- U ơi! Sao u lại chết hở u, u chết thì ai nuôi chúng con, u ơi!

Nghe tiếng khóc, ông thấy não cả ruột gan. Tiếng khóc dội vào lòng làm nhói buốt tim ông. Ông cúi xuống vuốt nước mắt cho con, nhưng chúng nó vẫn nghẹn ngào kể lể trong tiếng nấc :

- U ơi! Có miếng gì ngon u dành hết cho chúng con để đến nỗi u phải lìa bỏ cõi đời, u ơi!

Ông đau đớn, cổ họng khô bỏng rát, lặng lẽ ngồi suy ngẫm lại những ngày tháng đã qua. Dần dần trong óc ông hiện lên tất cả, nhưng khi ông biết nghĩ lại thì đã muộn rồi. Bây giờ ông mới thấy mắt sáng ra, nhận thấy rằng con đường nghiện ngập, cờ bạc của mình đã dẫn đến tai họa, đến sự nghèo đói khốn khổ của gia đình vợ con. Mải say với những cuộc đỏ đen để sát phạt nhau, ông đã để mất đi một cuộc sống gia đình có thể gọi là hạnh phúc, chuốc lấy cảnh góa bụa cho mình, côi cút cho con.

Chôn cất bà xong, ông cùng năm đứa con lóc nhóc, vụng dại trở về căn nhà đất vách xiêu, lặng lễ thắp hương lên thờ. Sau thầy con nhớ lời u nó dặn, bốc trấu sảy lấy thóc, xay giã được ít gạo, bỏ vào thổi bát cơm cúng bà. Khi bưng bát cơm, không hiểu sao tự nhiên nước mắt ông nó cứ trào ra, nghẹn ngào không nuốt được. Vậy là từ nay ông vĩnh viễn mất đi người vợ hiền tần tảo đã từng nhịn ăn nhịn mặc để dành cho chồng, cho con. Giờ đây ông mới nhận thấy đời bà khổ quá, chẳng bao giờ được hưởng niềm vui của một người vợ, người mẹ như những người đàn bà khác. Có thể nói bà là nạn nhân của sự say mê cờ bạc của ông.

Không hiểu vì sao, không có bà và không được bà nhắc nhở khuyên nhủ, nhưng ông bỏ hẳn chiếu tổ tôm xóc đĩa, chịu khó làm lụng kiếm tiền nuôi các con. Có lẽ bởi hình ảnh bà trong phút chót vẫn còn in đậm mãi trong ông với câu dặn: “Thầy nó gắng nuôi con thay tôi, đừng để đời chúng nó phải khổ như đời tôi” mà suốt đời ông không thể quên được. Và ông đã sống độc thân từ bấy đến nay, nuôi dạy con cái trưởng thành theo đúng lời bà mong ước. Nay thì tuổi đã già, sức đã cạn, có chết ông cũng thỏa lòng bởi lẽ đã làm xong bổn phận mà bà giao phó.

Ông tôi ngừng kể, lấy khăn lau mắt rồi nhìn ra xa xăm.

Tôi lặng lẽ ngắm nhìn ông tôi, nước da hồng hào, vầng trán chi chít những nếp nhăn, hằn sâu những nỗi gian truân, những niềm trăn trở của ông suốt bốn hai năm trời đằng đẵng nuôi bố tôi, nuôi các cô các chú của tôi. Suốt bốn hai năm qua, ông đã tự dằn vặt mình và ông đã nhận ra, tự sửa chữa sai lầm đã mắc phải, mặc dù biết rằng làm như vậy là quá muộn.


Trại hè sáng tác 1988

Đào Thị Thu Trang

Tiền Hải, Thái Bình

 

Các bài viết liên quan:

Những tác phẩm cũ hơn:

Những tác phẩm mới hơn:

 
Mời các Tác giả gửi bài cộng tác cho Ban Biên tập Nhà Búp qua hộp thư email: nhabup.vn@gmail.com
Văn phòng Thường trực Ban Biên tập Nhà Búp: Số 24, Lý Thường Kiệt, Q. Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội;
Ngoài địa chỉ: www.nhabup.vn, bạn có thể truy cập vào website này qua các tên miền quen thuộc: www.nhabup.net hoặc www.nhabup.com
Website đang được thử nghiệm và điều hành phi lợi nhuận, bởi các tình nguyện viên.