
- Lý luận - Phê bình

Trên đường tới lục bát
Thứ sáu - 28/08/2026 18:23

TRÊN ĐƯỜNG TỚI LỤC BÁT (Hay là Trương Minh Hiếu chạm vào lục bát)
Tác giả: Bùi Việt Thắng
Thả gió qua sông là tập thơ thứ tư, và là tập lục bát thứ hai của Trương Minh Hiếu (Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng), sau “Cội” (NXB Hội Nhà văn, 2024), “Đi qua mỗi ngày tôi” (NXB Hội Nhà văn, 2025) và “Ru mình” (NXB Văn học, 2025). Tôi chưa hề gặp mặt Trương Minh Hiếu, chỉ là “kiến kỳ văn bất kiến kỳ hình”, quen tên bởi gần đây thấy xuất hiện khá nhiều trên văn đàn. Cầm tập bản thảo Thả gió qua sông của Trương Minh Hiếu trong tay, tôi cứ liều đọc kỹ, nghĩ chín về cả 50 bài lục bát trong tập, từ cảm tới hiểu, tự nhiên thấy tự tin viết một bài, trước hết là tặng tác giả, sau hết là tặng bạn đọc yêu thơ, đặc biệt yêu lục bát.
Trước khi đặt bút viết, tôi cẩn thận đọc lại sách chuyên khảo “Thi pháp ca dao” của nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Kính, để biết lục bát là thể loại chủ lực của ca dao có những sắc màu thẩm mỹ nào, vì sao được coi là hình thức thể loại đặc sắc thơ Việt Nam, chính Đại thi hào Nguyễn Du đã đưa lục bát dân tộc lên đỉnh cao qua tuyệt phẩm Truyện Kiều.
Cũng nhân tiện tôi xin phi lộ đôi điều về nhan đề tập thơ. Đã lâu, tôi có đọc một truyện rất ám gợi, có tên “Nhốt gió” của nhà văn Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987). Truyện kể về một chú bé có khát vọng kỳ lạ “nhốt gió” lại để cùng chơi, nhưng cuối cùng đành phải chấp nhận thả gió ra và cùng vui chơi với gió. Đây là một tác phẩm có lối xây dựng hình tượng văn học mới lạ, nhiều ngụ ý, đa nghĩa, có tính biểu tượng cao. Vậy nếu chúng ta giác ngộ từ đầu “thả gió” cũng có nghĩa chúng ta nhận ra quy luật thuận thiên (hợp lẽ tự nhiên) như một cách sống hợp lý, hợp tình. Đó là lý do để hy vọng và tồn tại. Quả vậy, trong thực tế, chúng ta đã phá hoại, đã làm tổn thương, đã chống lại tự nhiên quá nhiều và đã nhận vô số hệ lụy cay đắng. Trương Minh Hiếu “Thả gió qua sông”, dĩ nhiên không phải là người phát kiến, nhưng là phải đạo, là người biết thích nghi vì thích nghi là lẽ sinh tồn. Bởi con người là một phần của tự nhiên, hơn thế, có thể nói: “con người là tự nhiên”.
Vì sao tôi đặt cho bài viết cái tên rất chi là khiêm tốn “Trên đường tới lục bát” (hay là “Trương Minh Hiếu chạm vào lục bát”) là có ngụ ý hẳn hoi.
Thì chính nhà thơ Trương Minh Hiếu viết: “Này, chạm vào lá đi em*/ Cho cây bớt tủi lãng quên bên đường/ Chạm là gieo hạt vấn vương/ Mầm cây trổ búp nhớ thương hôm này” (Chạm vào chiếc lá, đăng Baovannghe.vn, 5/5/2026). Dấu sao đánh cuối câu thơ đầu là chú thích Trương Minh Hiếu mượn ý thơ của Bùi Thanh Huyền. Cũng không có gì là không ổn trong trường hợp này, nếu như có ai đó đọc xong cứ vân vi (vì sao phải mượn?!). Rõ ràng như dưới thanh thiên bạch nhật, rằng chúng ta mãi mãi chỉ “chạm” được vào cái đẹp, cũng như chỉ “chạm” được vào lục bát mà thôi. Bởi vì chúng ta không bao giờ tiếp cận được chân lý, nếu có cũng chỉ là tiệm cận (trừ thiên tài nói chung, như Nguyễn Du nói riêng). Không phải cứ viết/gieo được câu lục trước, câu bát sau là thành lục bát, theo đúng nghĩa sâu sắc của từ ngữ chỉ một thể loại văn học mang hồn cốt dân tộc như là quốc hiệu, quốc kỳ, quốc ca hay quốc hoa (nếu chúng ta chọn hoa sen).
Cũng vậy, nếu Trương Minh Hiếu đã thực sự đang trên đường tới lục bát (hay bước đầu chạm được vào lục bát), thì tôi nghĩ, cũng đã là thành công, khải hoàn, đã có cơ sở để tin vào khai hoa, kết quả. Không biết có ngẫu nhiên hay không khi thi sĩ chỉ chọn 50 bài đưa vào tập thơ mới (tập thơ thứ tư), như là một dấu son đỏ kỷ niệm bản thân khi đã qua ngưỡng tuổi ngũ thập tri thiên mệnh, đang ung dung tự tại tuổi lục thập vốn nhi nhĩ thuận. Ai đó nói không phải không có lý, viết lục bát thường thuộc về những cây bút đã đứng tuổi, đã chín nhừ do trải nghiệm sống, trải nghiệm văn hóa, lại riêng thích sự cân đối, hài hòa, ổn định, nhịp nhàng, giả sử có phá cách thì cũng trong phên giậu của thể loại truyền thống, đặc tuyển chất Folklore (Văn hóa dân gian), dĩ nhiên không tính ngoại lệ. Nên khi tôi viết thẳng thắn: nhà thơ Trương Minh Hiếu chạm vào lục bát là có cái lý, cái tình của câu chữ, là nhiều ngụ ý, hay nói cách khác là “ý tại ngôn ngoại”.
Riêng tôi đọc và thích cái bâng quơ, mơ hồ, vô hình, phiêu linh hơn cái hiện hữu, thiết thực, rõ ràng, phồn thực, sát sườn trong lục bát Trương Minh Hiếu. Vì sao? Nó không hẳn thuộc về “miền hoang” (bản năng gốc), cũng không quá hiện sinh, nghiệm sinh mà thường trên đường biên của ảo và thực, bất thường và bình thường, xa và gần, hiện hữu và tâm linh, vô vi và lão thực, cổ truyền và tân kỳ. Bởi vì, thế giới nghệ thuật của thơ là thế giới của cảm giác, trực giác (đôi khi là ảo giác), của ấn tượng, của cái phi lý, cái khả nhiên. Vì thơ không có bảo hiểm, vì thơ là cuộc phiêu lưu chữ (nó khác xa, khác hẳn cái nghề của thi sĩ luôn mang lại bảo hiểm rõ ràng chắc chắn cho con người theo phương châm hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả).
Ngòi bút thơ Trương Minh Hiếu, tôi nghĩ, mạnh về trực giác (khởi đầu của sáng tạo) hơn lý tính (kiểm soát tác phẩm trước khi xuất bản). Tôi chỉ đơn cử vài ba bài lục bát tiêu biểu. Chẳng hạn, “Bâng quơ lại nhớ một ngày”: “Chỉ là hình bóng ngang qua/ Mà heo hắt đợi, mà tha thiết chờ/ Một mai có thể bất ngờ/ Thiệp hồng em gửi hững hờ trong tay/ Bâng quơ lại nhớ một ngày”. Cặp lục bát cuối bài chỉ có câu 6, khuyết câu 8. Giống như một bước hụt ta đang đi trên đường mải nghĩ va vào đâu đó. Thành ra lấp lửng theo lối “Người khôn ăn nói nửa chừng/ Để cho người dại nửa mừng nửa lo”?! Cũng man mác triết lý cuộc đời nhưng kín đáo về cái vô hình và cái hữu hình, nhưng chưa đến độ “sắc sắc không không”. Nhưng hóa ra lại làm ta tỉnh giấc chú ý hơn trạng huống nhân sinh hiện thời.
Cuộc đời vốn vô số những khoảnh khắc (moment) đáng nhớ theo chiều hướng buồn vui khác nhau. Khoảnh khắc là cái hữu hạn trong cái vô hạn của thời gian đời người. Chỉ là một thoáng mưa bay, theo tôi nói được khá đủ đầy về cảm thức thời gian trong thơ lục bát Trương Minh Hiếu. Chúng ta thường nghĩ xa, nghĩ dài, nghĩ rộng trên đường đời nhưng ít nghĩ theo chiều kích hiện sinh về cái thời gian hiện tồn, hiện hữu trong những khoảnh khắc rất đáng nhớ, đáng lưu giữ vào ký ức lương thiện, nhưng rồi lại dễ dàng trôi qua “Chỉ là một thoáng mưa bay/ Mà đằm vai áo, mà say mắt buồn/ Dửng dưng suối cũng xuôi nguồn/ Hững hờ sóng ngược từ luồng khơi xa”. Vậy nên, giả sử có ai đó lơ đễnh, mải vui, dễ quên những khoảnh khắc rực sáng (có thể là rực cháy, phát sáng) của đời người thì may mắn thay đã có nhà thơ bền bỉ lưu giữ, chăm chút, bởi thức ăn tinh thần của con người là một nhu cầu vô cùng tận. Kỳ cùng chí lý mà nói, thi sĩ không phải là người nắm giữ một kho của cải những gì quá cụ thể, hữu dụng, thực tế mà có khi đóng vai chủ sở hữu một khối những mộng mơ, phiêu linh, chủ trương không tiện ích cho người thực dụng, mưu lợi.
Lại nói thơ viết về mùa đông rõ ràng không thể dư dả phong phú sắc điệu như về mùa xuân, mùa thu, mùa hè. Vì mùa đông gợi buồn rét mướt, con người thường hay thúc thủ. Hình như đông đã về rồi khá tiêu biểu cho lối viết của thi sĩ nghiêng về cái bâng quơ, mơ hồ. Rõ ràng là như dưới thanh thiên bạch nhật, mùa đông đã về, đã khiến người ta co ro vì gió lạnh. Thế nhưng thi sĩ vẫn cứ dùng dằng, không muốn gọi đích danh tên cái rét mướt giá lạnh làm run rẩy thêm ai cả, nên động viên khéo người khác “Hình như đông đã về rồi/ Đêm qua có ngọn gió ngồi co ro”. Đã khéo lại càng khéo khi tiếp tục trấn an người khác “Bất ngờ nhu nhú hạt mầm/ Lửa trong tay ấm sưởi nhầm đêm đông”. Nói chi li thế để thấy khi nào viết về cái bâng quơ, cái mơ hồ thì ngòi bút Trương Minh Hiếu chạm vào đối tượng hơn khi viết về cái cụ thể sát sườn, kiểu như: “Đèn đỏ, đèn xanh”, “Gạn đục khơi trong”... Cũng có thể hiểu, ngòi bút Trương Minh Hiếu mạnh về biểu cảm, trữ tình hơn thế sự, triết lý.
Thiên nhiên tràn trề trong thơ lục bát Trương Minh Hiếu nhờ con mắt xanh của thi sĩ: “Thả gió qua sông” là nhan đề bài thơ được dùng đặt tên cho tập thơ. Đọc xong bài thơ này, tự nhiên tôi nhớ tới những câu thơ nằm lòng từ thời mới nhập học năm thứ nhất khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội: “Sinh ở đâu mà ai cũng anh hùng? Tất cả trả lời, sinh bên một dòng sông” (Những dòng sông - Bế Kiến Quốc). Tự trào rằng, bản thân mình cũng được sinh ra bên dòng sông La (Hà Tĩnh) mà chẳng trở thành anh hùng hay thi nhân. Vẫn chỉ là thảo dân. Hóa ra, Trương Minh Hiếu được sông Hồng nuôi dưỡng thành thi nhân “Nhà tôi bên ấy sông Hồng/ Gió mông mênh gió, mây bồng bềnh mây/ Ngô vàng rười rượi bên đây/ Ong say hương phấn ngất ngây đôi bờ/ Bởi hoa chẳng hẹn chẳng chờ/ Nên bươm bướm cứ lập lờ qua sông/ Khoai xanh trong mắt người trồng/Lúa theo tay ngọt đòng đòng mà lên/ Nhớ nguồn sóng thức thâu đêm/ Đợi người lỡ hẹn đò quên lối về/ Câu hò vọng giữa hai quê/ Đôi bờ chung tiếng con bê gọi đàn/ Trời xanh ru sợi nắng vàng/ Giấc mơ trĩu hạt mùa màng trong nhau/ Bên sông vẫn cách dòng sâu/ Mượn cơn gió cả thả câu gọi người”.
Thật là chốn chưa phải bồng lai tiên cảnh, song đã rõ là bờ xôi ruộng mật, trù phú, sung túc nuôi lớn những thi nhân, anh hùng, người tài, người tử tế. Nhà thơ vốn từ lọt lòng đã được thiên nhiên ưu đãi, lớn lên trong vị ngọt bùi của đòng sữa, ngô khoai bời bời. Phù sa văn chương sau này là được bồi đắp từ phù sa của sông Cái - sông Hồng. Viết “Thả gió qua sông” là cách thi sĩ trả ơn, bái tạ quê hương đã tạo nên khí quyển văn hóa cho người làm thơ tự tin vững bước đi trên con đường thiên lý văn chương. Riêng tôi, trong tiết 12 tháng của tuần hoàn một năm, không hiểu sao, trước sau vẫn cứ đinh ninh rằng thích tháng ba, khoảng thời gian đó tự cảm thấy mình như được bồi thêm nội lực, hồi sinh. Nên đọc “Trong ngần tháng ba” như đồng cảm với nhà thơ “Ngỡ hè cứ đến vô tư/ Ngờ đâu xuân vẫn ậm ừ chưa qua/ Vẫn còn níu chút hương xa/ Hoa mê mẩn ướp ủ qua đêm dài/ Thắm làm chi để nhạt phai/ Có còn ai nữa mối mai lời thề/ Sương tan nắng chẳng chịu về/ Để âm u đất và dề dà mưa/ Ấm nồng đến độ hay chưa/ Lay phay rắc mấy lưa thưa hạt mầm/ Tay trong tay với nắm cầm/ Mùa hoa nở giữa trong ngần tháng ba/ Thế là xuân rộn ràng qua/ Hè xôn xao đến cho ta thật lòng”. Trong trường hợp này, tôi thấy định nghĩa sau về nhà văn là sát hợp: Nhà văn là người có cái khả năng nói/ viết ra những điều mà nhiều người khác cảm và nghĩ nhưng không biết cách nói/ viết ra được?! Tôi nghĩ, cứ cho như thế là đúng và thuyết phục.
Lục bát Trương Minh Hiếu là một ví dụ sinh động của phương châm đến hiện đại từ truyền thống. Không phải nhà văn nào hiện nay cũng ý thức được sâu sắc mình đang viết cho ai đọc, trong khi cứ mường tượng (có thể là ngộ nhận) độc giả của mình hiện đang tuyền là những người thuộc tinh hoa, quý tộc (như tầng lớp thảo dân gọi họ là tầng lớp có “đai đẳng”, “tự vỗ ngực”...), nhưng lại không tỏ tường trong số đó không ít trưởng giả học làm sang và ít nhiều trọc phú ngộ chữ. Tôi đồ rằng, Trương Minh Hiếu khi viết lục bát là đi theo đường biên giữa “lối cũ ta về” và “đến hiện đại từ truyền thống”. Viết lục bát là cách trả văn chương, thơ ca về cho quảng đại quần chúng như cách Nguyễn Du, Nguyễn Bính, Nguyễn Duy đã thực hành chữ thành công. Cũng đã có nhà phê bình quá yêu thi sĩ xứ Thanh mà phong tấn cho Nguyễn Duy là “Nhà thơ thảo dân”. Nói chính xác hơn thì Nguyễn Duy là “Nhà thơ Nhân dân”.
Nói hình tượng thì Trương Minh Hiếu thuộc kiểu/ mẫu “Người kim mang thói cổ”. Độc giả có thể bất chợt gặp trong lục bát Trương Minh Hiếu những từ ngữ cổ xưa (hay là cổ kính), song le không là cổ hủ, như: cung thương, phím đàn, đoạn trường, tha hương, phân ly, u sầu, kiếp sau, nhân gian,... Những từ ngữ có cái vỏ/vẻ “cũ càng” ấy lại trở nên đắc địa khi nó tạo nên không khí và nhịp điệu thơ lục bát vốn đòi hỏi thường trực sự an nhiên, yên ả, tĩnh tại, thậm chí trễ tràng nhưng không hề lạc nhịp. Nói cách khác, viết/ chơi lục bát là hiển thị một/ các lối sống chậm, ở đó nhịp điệu tâm hồn bằng an, tạo nên căn đế cho sự cân bằng, hài hòa của cấu trúc thơ. Dường như nhà thơ muốn tạo nên sự liên kết ngầm thông qua tương phản bằng chữ cái ngày xưa và cái ngày nay với tâm thế “bao giờ cho đến ngày xưa?!”. Tôi đọc và hình dung ra, mỗi khi nhà thơ “Vào Thành Phố cuối mùa thu”, lại cứ hay thắc thỏm “Thương cò đồng xa”. Nói truyền thống (cổ truyền) và hiện đại (tân kỳ) trong văn/ thơ thì cuối cùng cũng không ra ngoài phên giậu của một chữ “tình”. Nên chăng, vì thế gọi thi sĩ là người duy tình, vì đã đã tạo ra thơ lục bát nhiều “tình tứ”?!
Đã kết bài, tự nhiên muốn viết thêm một ý nữa, có thể tham nhũng thời gian của độc giả. Nhưng phóng lao phải theo lao: Liệu 50 bài lục bát ngắn gọn và cô đúc này có đủ tạo độ dày để sách “đứng” được (xét về mặt vật lý)?! Nhưng rồi tĩnh trí, lại biết sách chỉ cần “đứng” được trong lòng độc giả. Tôi tin, nhiều người nghĩ như tôi khi chạm vào “Thả gió qua sông” của Trương Minh Hiếu.
Hà Nội, tháng 5/2026
B.V.T



