
- Lý luận - Phê bình

Thả gió qua sông - Hành trình của Lục bát và những miền cảm xúc
Thứ tư - 12/08/2026 16:22

THẢ GIÓ QUA SÔNG - HÀNH TRÌNH CỦA
LỤC BÁT VÀ NHỮNG MIỀN CẢM XÚC
(Bùi Thị Biên Linh)
Có người nói: thơ là nơi “Ngôn ngữ tìm thấy linh hồn của mình”. Với thơ lục bát đã thấm sâu vào mạch nguồn văn hóa dân tộc, điều ấy càng trở nên sâu sắc. Lục bát không chỉ là ký ức mà còn làm tái sinh hơi thở, hình ảnh và những âm thanh của cuộc sống con người, là sợi dây diệu kỳ kết nối giữa hiện tại và ký ức, giữa truyền thống và hiện đại. “Thả gió qua sông” tập thơ lục bát gồm 50 bài của Trương Minh Hiếu đã thực sự là một hành trình của lục bát và những miền cảm xúc. Phó Giáo sư, Tiến sĩ, NGƯT Nguyễn Đức Hạnh cho rằng: “…Thể thơ lục bát dễ viết, khó hay. Nếu không có những điểm nhấn nào thì những cặp sáu tám ấy dễ trôi và dễ nhạt”. Và thật vui khi nhà thơ Trương Minh Hiếu có một điểm nhấn đáng chú ý, đó là “tính triết luận giầu trí tuệ kết tinh trong những thi ảnh mới và đẹp có khả năng gợi liên tưởng mạnh mẽ cho người đọc…”.
Bằng giọng điệu riêng tha thiết, bâng khuâng, giầu tính triết luận, “Thả gió qua sông” không đơn thuần chỉ là một tập thơ, nó là hành trình đối thoại với chính mình, với cảnh vật, với những di sản văn hóa mà nhà thơ Kim Chuông gọi đó là hành trình “Thả cái tôi trữ tình vào dòng chảy của những miền cảm xúc”.
Tôi thích nhan đề đầy sức gợi của tập thơ “Thả gió qua sông”. Ở đây, gió không chỉ là gió, sông không chỉ là sông mà là những ẩn dụ mềm mại của tâm hồn, lay động và khẽ khàng chạm vào những miền cảm xúc sâu thẳm nhất. Gió không chỉ là chuyển động của tự nhiên mà nó còn là sự vô định của lòng người! Sông không chỉ là sông mà còn là dòng trôi của ký ức! Nhan đề tập thơ là bản tóm lược thẩm mĩ toàn bộ giá trị nội dung, giá trị tư tưởng, vẻ đẹp của cuốn sách, thể hiện cách nhìn và phong cách nghệ thuật của tác giả. Nhan đề “Thả gió qua sông” mang một ý nghĩa, một vẻ đẹp của cánh cửa dẫn vào tập thơ, không ồn ào mà chậm rãi nhẹ nhàng, vừa thiết tha, vừa buông bỏ, vừa hòa quyện để tan ra, mất đi để tồn tại và lưu giữ vẻ đẹp mãi mãi. Đó là quy luật! Nhan đề tập thơ như một lời mời người đọc “thả lòng mình” vào miền cảm xúc của nhà thơ trong hành trình của những vần lục bát, để cùng cảm nhận những rung động rất người, rất thơ, gợi ra từ tác phẩm. Nếu “Cội” (NXB Hội Nhà văn, năm 2024) là những khúc tâm tình sâu nặng về quê hương, gia đình, nguồn cội; “Đi qua mỗi ngày tôi” (NXB Hội Nhà văn, năm 2025) đa dạng các thể thơ, được coi là “Thơ có những nén ép chặt từ diện kiến đối thoại để có được hiệu ứng một tầng chìm sâu của năng lực tư duy phát hiện qua chiêm nghiệm triết thuyết” - Kim Chuông, thì “Thả gió qua sông” sau lục bát “Ru mình” (NXB Văn học, năm 2025), lại là tập thơ cũng dành riêng cho lục bát. Nhưng lục bát “Thả gió qua sông” của Hiếu luôn được làm mới bằng những trải nghiệm rất đời, rất hôm nay. Ngôn ngữ trong thơ anh giầu hình ảnh, giầu sức gợi. Thơ thường xoay quanh những mạch cảm xúc quen thuộc bền bỉ. Đó là tình yêu lứa đôi với sắc thái thiết tha, day dứt nhuốm màu hoài niệm. Đó là những suy tư, bâng khuâng về đời sống, về thời gian trong cõi nhân sinh, hoặc những cảm thức về sự được còn, mất mát và buông bỏ… trong hành trình sống. Những câu thơ da diết lòng người:
“Mơ hồ tỉnh giữa cơn say
Cạn ly để biết đêm nay ta còn…”
(Ta lại cạn ly)
Hay:
“Ta mang tiếc nuối đi tìm
Bơ vơ ngọn gió lặng im theo về”
(Tìm lại lời yêu)
Cái bâng khuâng da diết trong thơ Trương Minh Hiếu không chỉ ở giọng điệu mà còn ở lời thơ, ở ngôn từ, và cách bố cục của bài.
Người ta bảo “thơ hay là ở phần kết vừa lắng đọng, vừa gợi mở, hàm chứa lời nhắn nhủ sâu xa…”. Năm mươi bài trong “Thả gió qua sông” của Hiếu hầu hết đã có những cái kết tạo điểm nhấn. Lý luận văn học gọi đó là Điểm rơi của cảm xúc. Lắng lại và tạo nên sự đồng cảm, đồng điệu nơi người đọc:
“Lời yêu lạc ở nơi nao
Ta xin trả lại khuyết hao ngày tìm”
(Tìm lại lời yêu)
Ở đây, hình ảnh “Lời yêu” không còn là một phát ngôn cụ thể mà được vật thể hóa như một thực thể, từ “lạc” gợi ra rằng, tình yêu không mất đi nhưng nó không còn thuộc về “Ta” nữa. Nó đang ở đâu? Ngoài tầm với của ký ức và hiện tại. Nó khiến cho cảm xúc thơ trở nên day dứt. Sự “khuyết hao” âm thầm như vết mòn của thời gian lên trái tim yêu, khiến ta “buông bỏ” “xin trả lại”. Cấu trúc câu thơ như một nghịch lý nghệ thuật đầy ám ảnh.
Nếu đọc kỹ các sáng tác của Minh Hiếu, đặc biệt là dừng lại ở cái kết bài, trong Thả gió qua sông, ta sẽ thấy thơ Hiếu như đang kể - kể với người khác mà cũng là kể với chính mình. Nó chân thành, bình dị mà đủ sức lay động. Đó là một kỹ thuật viết có được từ chính trải nghiệm cuộc đời. Anh không tìm đến những đề tài lớn lao mà đi vào những rung động đời thường nên thơ dễ tìm được sự đồng cảm, đồng điệu của người đọc. Nhà văn Trần Thu Huê cho rằng: “Thơ Hiếu như một khoảng lặng giữa nhịp sống gấp gáp nơi con người được lắng lại và nghe rõ hơn tiếng lòng của mình”. Hãy điểm qua bài: “Biển vắng” là nỗi cô đơn của con người trước vũ trụ bao la, nỗi cô đơn mang hình hài vũ trụ:
“Này con sóng dưới lòng sâu
Lên đây với gió hát câu ầm ào”
Sóng từ “lòng sâu” trồi lên như một ẩn dụ cho cảm xúc bị dồn nén. Ở đây, thiên nhiên không còn là ngoại cảnh mà trở thành tâm cảnh. Con sóng chính là cái “Tôi” trữ tình. Đặc biệt, câu cao trào của bài: “Chỉ một ta với một bờ mênh mang”, cấu trúc “một… một…” đặt cái ta bé nhỏ đối diện với cái mênh mang vô hạn của vũ trụ. Biển không còn là biển, nó là khoảng trống của đời sống, là nơi con người ý thức sâu sắc sự cô độc của mình. Nếu “Biển vắng” là nỗi cô đơn tuyệt đối thì bài “Thả gió qua sông” lại diễn tả nỗi cô đơn trong mối quan hệ người với người - nỗi buồn có đối tượng, có nguồn cơn. Không gian thơ là sông Hồng - vừa cụ thể, vừa là biểu tượng của văn hóa. Dòng sông chia đôi, đôi bờ cũng như chia đôi những số phận:
“Bên sông vẫn cách dòng sâu
Mượn cơn gió cả thả câu gọi người”
Hình ảnh “thả gió” là một sáng tạo tinh tế của tác giả. Gió vô hình, gió không biên giới, gió vô tận mênh mang đã trở thành phương tiện giao cảm của người đôi bờ. Đẹp và thơ lắm nhưng cũng cho ta cảm nhận được cái “bất khả của sự gặp gỡ”. Và câu:
“Bởi hoa chẳng hẹn chẳng chờ
Nên bươm bướm cứ lập lờ qua sông”
Lời thơ mang màu sắc triết lý dân gian. Không có lời hẹn, chỉ có nỗi nhớ, niềm mong và nỗi cô đơn của người “thả gió”. Tập thơ có nhiều bài ấn tượng: Mơ gặp hoa hồng, Nửa đêm trăng ngà, Ta lại cạn ly, Cà phê một mình, Bao giờ trả hết cho nhau, Cho nhau cầm lấy thật thà, Muộn màng mồng 8 tháng 3… Ngôn ngữ thơ mộc mạc, chân thành nhưng hết sức lay động. Bài nào cũng thể hiện nét riêng mà Minh Hiếu tự cho là nó “vừa chân quê, vừa phố thị”. Đó là những vần thơ từ cuộc sống, là nơi tình yêu tan vào thiên nhiên và hóa thành nỗi da diết bâng khuâng, thành hoài niệm buồn mà đẹp đến nao lòng!
Đọc “Cà phê một mình” để cảm nhận khoảnh khắc nhà thơ độc thoại nội tâm nhưng sự độc thoại ấy mang vẻ đẹp của sự dang dở. Ở bài này, không gian thu hẹp trong một quán cà phê. Sự thu hẹp ấy làm nổi bật chiều sâu nội tâm:
“Một mình với một cà phê
Một đi giọt giọt, một về dửng dưng”
Nhịp thơ ngắt đôi đối xứng “một đi … một về” tạo nên cảm giác phân thân. Cái tôi vừa hiện diện, vừa lặng lẽ rời khỏi chính mình. Chỉ còn “ta với ta” trong nỗi cô đơn, để đọng lại trong câu thơ đặc sắc của bài:
“Lời nào vừa giữ nửa chừng lại buông”
Pau Valiry cho rằng: “Thơ không bao giờ hoàn tất, chỉ bị bỏ dở”. Cái đắng của cà phê không chỉ là vị giác, nó là ẩn dụ cho trải nghiệm với tình cảm, nỗi buồn khi chiêm nghiệm, khi nhớ về những hồi ức đẹp đẽ:
“Cà phê đắng lại tan thêm ngọt ngào”
Dù mộc mạc trong ngôn từ, thơ Hiếu vẫn giầu sức gợi và độ lắng. Chất trí tuệ, những suy tư sâu sắc thấm lẽ đời tạo nên độ sâu của thơ anh:
“Cuộc đời đi xa càng xa
Thôi, dừng chân để nghĩa là có nhau
Nếu mà chọn được kiếp sau
Ta làm ngọn gió đêm sâu lạc về”
(Nghĩ cho hôm nay)
Nhiều câu thơ như những mảnh vỡ của trữ tình, đó là nỗi chậm trễ của tình yêu và ý thức về thời gian như một dòng sông vừa dịu dàng, vừa tàn nhẫn. Lặng lẽ cùng những rung động thành thực của tâm hồn:
“Câu thương nhận lấy cho đành
Muộn màng lời chúc để dành làm vui”
(Muộn màng mồng 8 tháng 3)
Tình cảm không còn là sự tự nguyện mà nhuốm màu cam chịu nên nó trở thành gánh nặng tinh thần. Người ta tự an ủi bằng “lời chúc để dành”.
Có những khoảnh khắc “tay vấp phải tay” gây nên cái “giật mình” bởi sự va chạm tình cảm “Giật mình tay vấp phải tay/ Một dòng đỏ thắm vết gai hoa hồng”. Hình ảnh ẩn dụ quen mà không cũ. “Gai hoa hồng” và “dòng đỏ thắm” - Rê Lanbatheor từng nhận xét “Tình yêu luôn mang trong nó khả năng gây tổn thương…”
Thơ Trương Minh Hiếu không bi luỵ, không khoa trương, nó nhẹ nhàng lặng lẽ như một dòng chảy ngầm, bình dị để người đọc ngỡ gặp mình trong đó.
Và đây:
“Sen tàn chớ vội buồn mau
Hương trong bùn đất mùa sau đang về”
(Sen tàn chớ vội buồn mau)
Thơ đậm quan niệm triết lý phương Đông về sự tái sinh, phảng phất ý thơ của người xưa: “Thấy trái rụng xin đừng vội khóc/ Một trái rụng cho trăm ngàn hạt mọc” hay “Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết/ Đêm qua sân trước nở nhành mai”. Thơ Trương Minh Hiếu có những câu lấp lánh tin yêu, lạc quan rất đời. Mạch cảm xúc này cùng với mạch cảm xúc về sự lẻ loi đơn độc không mâu thuẫn mà nó “hợp sức cùng nhau” làm nên một chân dung thi nhân gần gũi, đời hơn và cũng vẹn toàn hơn:
“Trót đa mang chút xanh rì
Kiệt cùng màu mỡ đất vì lá thôi
Chạm vào chiếc lá em ơi
Nghĩa là tôi chạm vào tôi phút này”
(Chạm vào chiếc lá)
Một chữ “trót” đã gói trọn ý niệm về những gì đã qua không thể trở về. Đó là sự “đã rồi”. Trót đa mang - đó là nghiệp cảm, là gánh nặng tinh thần mà chủ thể trữ tình vừa ý thức được nhưng vẫn vừa cam chịu. Làm thơ là nghiệp - là món nợ tinh thần mà người nghệ sĩ “đa mang”. Âu cũng là “Kiệt cùng màu mỡ, đất vì lá thôi”? Hai trạng thái kiệt cùng và màu mỡ đặt cạnh nhau như hai cực đối lập, như một nghịch lý giầu tính triết luận. Đất vốn là nguồn sinh dưỡng nhưng lại trở nên cạn kiệt “vì lá”. Lá là biểu tượng của sự sống xanh tươi. Để có vẻ đẹp ấy, đất phải hao kiệt chính mình. Đó là biểu tượng cho tình yêu, cho sự dâng hiến “Mọi vẻ đẹp đều có cái giá của nó, và thường cái giá ấy được trả trong im lặng”.
Câu cuối khổ thơ: “Chạm vào chiếc lá em ơi/ Nghĩa là tôi chạm vào tôi phút này”, là bước chuyển tinh tế từ ngoại giới vào nội giới. Từ cảnh vật vào tâm hồn. Hành động “chạm vào chiếc lá” mở ra một tầng ý nghĩa sâu xa. Đó là hành trình trở về với chính bản thân mình để thấy rõ, “Nghĩa là tôi chạm vào tôi phút này”. Câu thơ thể hiện tư duy mang màu sắc hiện sinh. Con người chỉ thực sự hiểu mình khi soi vào thực tại, giao cảm với thực tại và vạn vật. Quả đúng như câu “Thơ không chỉ là tiếng nói của cảm xúc mà còn là hành trình nhận thức chính mình qua cảm xúc ấy”. Đoạn thơ giầu chất suy tưởng: Người nghệ sĩ như đất, thơ là lá là hoa, nhà thơ vắt kiệt cùng tâm tư, trí tuệ và cảm xúc để dâng tặng cuộc đời vẻ đẹp của những vần thơ. Có lẽ, đó cũng là tiếng lòng của những người nghệ sĩ nói chung và Trương Minh Hiếu nói riêng.
Đọc lục bát “Thả gió qua sông” của Trương Minh Hiếu, người đọc đang được cùng nhà thơ đến với một miền cảm xúc bình dị ngọt ngào, sâu lắng và chứng kiến một hành trình lục bát của riêng anh: Đó là hành trình của một dòng sông ký ức chảy qua bao trải nghiệm từ cay đắng đến ngọt ngào, từ da diết bâng khuâng đến tin yêu mong đợi…
Sức sống của lục bát nói chung, “Thả gió qua sông” của Trương Minh Hiếu nói riêng nằm ở chỗ nó dịu mà sâu, nó không bao giờ cũ, nó là lá, là hoa, là cảm xúc mới mẻ của mỗi ngày ta đang sống. Giữa bao biến động của thời đại, bao cách tân của thơ ca, lục bát vẫn giữ nguyên vị thế đặc biệt và vẻ đẹp, sự thiêng liêng của nó - đó là thể thơ truyền thống của dân tộc Việt Nam, là sự giàu có âm thanh và hình ảnh của Tiếng Việt, là nhịp rung của con tim chậm rãi mà bền bỉ, nhắc con người nhớ về nguồn cội trong từng nét thơ giản dị mà sâu xa. Trương Minh Hiếu đã chọn cho mình con đường thơ không mới nhưng bền, như cách anh chọn ở lại trong lòng người đọc qua “Thả gió qua sông”.
B.T.B.L



