
- Lý luận - Phê bình

Thơ lục bát của Trần Huyền Tâm
Thứ tư - 08/07/2026 17:14

THƠ LỤC BÁT CỦA TRẦN HUYỀN TÂM
(Bùi Thị Biên Linh)
Trần Huyền Tâm là cây bút giàu nội lực và đa dạng. Có thể thấy cô tung hoành ở nhiều thể loại khác nhau, từ thơ, văn xuôi, lý luận phê bình văn học, đến nhạc, họa. Ở thể loại nào Tâm cũng để lại dấu ấn riêng. Khi viết về thơ Trần Huyền Tâm, tiến sĩ Nguyễn Sĩ Đại đã có những dòng cảm nhận thật sâu sắc: “Trần Huyền Tâm làm thơ như một sứ mệnh… thơ Trần Huyền Tâm thống nhất và đa dạng dễ đọc nhưng khó hiểu, đôi lúc thanh tao một cõi riêng không muốn cõi hồng trần chạm đến…”. Hiếm thấy có nhà ngoại giao nào mà lại có mối duyên nợ sâu đậm và tài hoa trên lĩnh vực văn chương nghệ thuật như thế. Chất trí tuệ, chất thơ và cảm hứng thiền luôn khiến cho mỗi trang viết của cô vừa sâu sắc vừa lãng mạn, bay bổng và luôn hướng về Chân-Thiện-Nhẫn.
Sau 18 tập sách thành công, Trần Huyền Tâm cho ra mắt tập thơ lục bát với 50 tác phẩm được tuyển chọn trong 50 năm sáng tác văn học của cô và hướng tới “Kỷ niệm 50 năm Nhóm Búp trên cành”. Tập thơ với tên gọi đầy sức gợi: “Bên trời neo gió”. Rabindranath Tagore từng viết: “Chúng ta sống không phải để giữ mà để yêu những gì sẽ mất”. Thế nên, tiêu đề “Bên trời neo gió” không chỉ là tên gọi của tập thơ mà nó chứa đựng bao khát khao và tuyên ngôn về lẽ sống và thẩm mỹ của nhà thơ. Tác giả đã dùng cái hiện hình “neo” để giữ lại, chống lại cái vô hình trôi dạt. Từ cổ chí kim có ai neo giữ được gió bao giờ? Có chăng đó chỉ là ước vọng của con người muốn níu giữ những điều đẹp đẽ nhưng mong manh. Một kỷ niệm, một bóng hình, một cảm xúc đã đi qua…
Và như thế, mỗi bài thơ trong tập sách là một mảnh của miền ký ức trân trọng – thương yêu được viết lên bằng những dịu ngọt, êm đềm của những vần lục bát. Cảnh sắc trong thơ bình dị mộc mạc mang đậm hồn quê khi vào thơ bỗng trở nên thật ấn tượng. Đó là tài năng của người cầm bút, bởi “Cái khó nhất của thơ không phải là nói điều lớn lao mà là giữ cho điều giản dị không trở nên tầm thường”. Trần Huyền Tâm đã làm được điều đó.
Tập thơ 50 bài lục bát trải dài suốt hành trình 50 năm cầm bút của tác giả (1976-2025). Mở đầu là chùm thơ viết thời niên thiếu thật dễ thương qua lăng kính và trái tim cô bé tuổi lên 10. Cảnh sắc quê hương, cảnh quây quần đoàn tụ, cảnh cánh đồng rực vàng trong ánh nắng rực vàng trong hương sắc mùa lúa chín, hay những lung linh xao động của trăng quê… Tất cả được Trần Huyền Tâm ghi lại bằng những hình ảnh đẹp, giàu sáng tạo:
“Bên cầu ao nhỏ sau nhà
Em ngồi em ngắm tim hoa bồng bồng
Phía trên giàn mướp mẹ trồng
Hình như nắng cũng trổ bông hoa vàng”
Cảnh quê hiện lên thân thương đến lạ. Cái cầu ao nhỏ, giàn mướp nở hoa như màu nắng đã trở thành nơi neo giữ những rung động cảm xúc trong ngần, là nơi khởi nguồn của ký ức yêu thương. Thế giới thiên nhiên với những con cá thòng đong, sặc xụi, ễnh ương và cả đàn ve sầu inh ỏi… hiện ra như một bức tranh mùa hè ở quê xao động, rộn ràng, tạo cảm hứng “tức cảnh sinh tình sinh sự” tới mức cả tác giả và trưa hè đều bị “rủ” vào cuộc “làm thơ”. Câu thơ kết bài thật thú vị, hồn thơ mở ra câu chữ đầy quyến rũ bởi thanh âm, sắc màu của quê hương.
Hình ảnh trong thơ Tâm thật đẹp, sinh động và đầy màu sắc vui tươi, với những liên tưởng ngộ nghĩnh:
“Nhìn lên đồng lúa ai đơm nắng vàng”
“Trăng từ sau bếp trồi lên
Tròn như chiếc đĩa vàng trên vòm trời”
Hay:
“Mẹ dâng hương trước sân nhà
Thoảng cơn mưa bụi chấm hoa mái đầu”
Và:
“Long lanh mắt nắng sương cài”
Hoặc:
“Nắng từ khóm cúc bước qua
Sà vào múi mít rồi qua thị vàng”
Những vần thơ lục bát thời thơ ấu ngọt ngào, trong veo nhưng mang trong nó là cả một vùng quê giàu văn hóa truyền thống gắn với không gian của tình cảm gia đình. Đọc “Gói bánh chưng Tết”, người đọc thấy cả một miền ký ức tuổi thơ tươi sáng, đong đầy yêu thương ùa về: Tết không phải là thời gian, mà là cảm giác hạnh phúc vì được đoàn tụ để cùng ước mơ về một tương lai tươi sáng. Quê hương với những mùa lúa chín vàng như màu nắng, những đêm trăng dát bạc trên bầu trời đã trở thành chất keo gắn kết không gian và tình cảm gia đình, quê hương ấm áp thân thương gợi mở ánh sáng của sự sống và những niềm vui tinh khôi của tuổi thơ. Ai đó từng nói: “Thơ hay là thơ khiến người ta nhớ, không phải vì câu chữ mà vì thấy mình trong đó”.
Xuyên suốt tập thơ là những khúc ca dịu lành, những lát cắt tươi sáng lấp lánh ngọn lửa trí tuệ, thanh tao với cảm hứng thiền và ấm áp yêu thương. Những bài thơ mộc mạc từ hình thức thể hiện, từ thi liệu đến nội dung nhưng kết tinh trong đó những ý tưởng sâu sắc được đúc kết từ chính trải nghiệm cuộc đời của Tâm. Những vần thơ được thôi thúc viết ra từ tình yêu cuộc sống, từ tình thương con người. Những vần thơ như mang sứ mệnh đặc biệt: giúp người đọc thêm yêu thương, hiểu và cảm ngộ thêm nhiều điều sâu sắc, để sớm quay trở về với bản nguyên gốc rễ của mình, để hướng tới cái Thiện, cái Đẹp.
Nếu những bài thơ viết theo thể thơ tự do của Tâm trong các tập thơ trước đây thường thuyết phục và tìm được sự đồng điệu với trái tim người đọc bằng ý tưởng sáng đẹp, nội dung mạch lạc, cảm xúc dạt dào thì thơ lục bát của Tâm lại thú vị không chỉ ở cảm xúc, ý tưởng mà ẩn ở chính hình thức thể hiện. Các tác phẩm lục bát của Tâm đều cho thấy sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất cổ điển và tính hiện đại, khép lại mỗi bài đều thấy sáng lên giá trị nhân văn. Bởi chúng ta đều biết rằng “Lục bát không làm khó người viết bằng hình thức nhưng thử thách họ ở chiều sâu cảm xúc và độ tinh luyện ngôn từ”. Trần Huyền Tâm đã khéo léo khai thác những điển tích, điển cố, những hình ảnh quen thuộc trong ca dao, biết chọn lọc những hình ảnh gần gũi thân thương trong đời sống để viết lên những vần thơ mang tư tưởng, mang hơi thở của cuộc sống hôm nay qua những liên tưởng mới, mang tầm khái quát. Một lần,Trần Huyền Tâm đã lý giải về việc sử dụng nhiều chất liệu văn học dân gian trong sáng tác: “Tôi muốn sử dụng ca dao, điển cổ, điển tích để nhắc nhớ mọi người về lời thệ ước ngàn năm”.
Tôi thích đọc những câu thơ mộc mạc như ca dao nhưng hình ảnh thơ rất mới, rất giàu sức gợi hình, gợi cảm:
“Chiều về buông hạt châu sa
Hình như trời rắc phù hoa thử người
Thả dây dò đáy giếng đời
Mang đêm dài vắn thử cơi đựng trầu
Thử người tãi nắng trên đầu
Ngón tay lỡ nhịp rớt sầu xuống sông”
(Thử)
Những câu thơ trên gợi nhớ đến câu ca dao: “Tưởng nước giếng sâu anh (em) nối sợi dây dài/ Ai ngờ giếng cạn anh (em) tiếc hoài sợi dây”. Và: “Đàn ông nông nổi giếng khơi /Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu”. Tâm đã chọn lọc vận dụng để đưa vào trong sáng tác của mình khá nhiều hình ảnh quen thuộc của ca dao như: “dây gầu”, “giếng”, “cơi đựng trầu”, những trái “cam” “quýt” “khế”.... để từ đó khái quát thành những nỗi đời và gửi gắm vào thơ cả tấm lòng xót xa thương cảm trước những mảnh đời, những số phận thua thiệt đắng cay:
“Cũng đành vít ngọn gió đông
Bẽ bàng ươm đọt trầu không bên chùa
Đèo bòng cam quýt cớ mùa
Hèn chi chanh khế chát chua tới giờ”
Lục bát của Huyền Tâm không chỉ kể chuyện mà còn giữ hồn – giữ lại những gì mong manh nhất của đời sống tinh thần con người.
“Một lần dò đáy giếng khơi
Thương đời vật vã nỗi cơi đựng trầu”
Trong bài “Chuyện tình cầu Ô thước”, Tâm viết:
“Hận rằng duyên phận long đong
Nhạt hồng... chát ổi... rám bòng... vì đâu”
Qua thủ pháp ẩn dụ, người đọc cảm nhận được nỗi niềm, thân phận con người trong mỗi dòng thơ:
“Quái chiều nhớ đọt nắng xiên
Cạn lòng... ngâu vẩy sầu lên tím trời”
Câu thơ: “Cạn lòng... ngâu vẩy sầu lên tím trời” là câu có hình ảnh thơ thật lạ, đầy sáng tạo. Nỗi tủi buồn những lứa đôi yêu nhau mà chẳng được cùng nhau trong điển tích xưa đã được khái quát thành nỗi đau nhân thế nên câu thơ của Tâm thêm một lần nữa trở thành tiếng lòng xót xa, thương cảm thấm đẫm giá trị nhân văn:
“Tiếng yêu trót lụy một thời
Xót xa nhân thế vạn đời điêu linh”
Những bài “Cầm vàng đừng để vàng rơi”, “Khi quá khứ gọi tên nhau” “Nói với người xưa”, “Nhắn từ Cung Quảng”... thường được nhắc đến gợi ra không gian nghệ thuật cho mỗi bài thơ đẫm màu huyền thoại, đậm chất cổ điển, từ đó mà gợi về “lời thệ ước ngàn năm”. Dẫu thế, nhà ngoại giao này luôn làm người đọc bất ngờ, thú vị khi đọc những câu thơ với những cách nhìn, cách cảm mới mẻ:
Một lần vướng lúm tiền xinh
Mấy đời ngồi gỡ cái tình đa đoan”
(Nói với người xưa)
Hay:
“Chiều gom bao sợi nắng ngà
Dát lên đĩa ngọc thế là thành trăng”
(Trăng Thu)
Thêm một hình thức thể hiện mới lạ nữa cũng góp phần tạo nên sự hấp dẫn cho thơ lục bát của Trần Huyền Tâm: Đó là sự kết hợp giữa hình thức tổ chức ngôn ngữ trên mỗi dòng thơ vừa truyền thống vừa hiện đại. Hãy xem Tâm viết:
“Thang mây chắp cánh thiên di
Cổng trời đã mở, đường đi đã rành
Rộn ràng những bước nhạc xanh
Nào tôi! Nào bạn! Nào anh! Ta về
(Trăng Thu)
Tính hiện đại trong lục bát của Tâm không chỉ dừng ở hình ảnh, ở hình thức thể hiện mà còn ở tư tưởng. Nếu ca dao xưa: “Bao giờ chạch đẻ ngọn đa/ Sáo đẻ dưới nước thì ta lấy mình /Bao giờ rau diếp làm đình /Gỗ lim làm ghém thì mình lấy ta” mang hàm ý của lời chối từ, lời cự tuyệt của ta với mình thì Trần Huyền Tâm lại thể hiện sự gắn bó trong một mối duyên tha thiết mãnh liệt đến mức có thể thay đổi quyền của tạo hóa tạo nên những nghịch lý phi thường:
“Ai đem chạch bỏ ngọn đa
Để tơ trời níu duyên ta với mình
Xanh xanh rau diếp làm đình
Gỗ lim hóa giải nợ tình nơi nhau”
Hoặc, nếu ca dao “Tưởng nước giếng sâu em nối sợi dây dài/ Ai ngờ giếng cạn, em tiếc hoài sợi dây” thì Trần Huyền Tâm lại nồng nàn mãnh liệt với một cách đề cập rất mới, rất thiện lành:
“Nước trong mà giếng thì sâu
Thương nhau ta nối dây gầu dài thêm
Để rồi quá khứ dịu êm
Không vu vơ gọi riêng tên chúng mình”
Trong thơ lục bát, Trần Huyền Tâm sử dụng nhiều từ láy. Tác dụng to lớn của từ láy là làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho diễn đạt.
Trong bài “Tìm về giữa những lặng thinh”, Tâm viết:
“Chùng chình hong nắng gội mưa
Nhắn người xưa nhớ hẹn xưa cùng về”
Hay:
“Tìm mình trong cõi mộng mê
Chênh chao đôi bóng chìm về nơi nhau”
Còn trong bài: “Con cò đi đón cơn mưa”:
“Sậm sì một khoảng trời quê
Ngàn xanh bỗng chốc dầm dề lời ngâu
Sầm sì mây cuộn trong nhau
Rưng rưng mí ướt bạc nhàu ngác ngơ”
Rất nhiều các từ láy như: thẫn thờ, sùng sũng, chơi vơi, phân vân, bần thần, đong đưa... xuất hiện với tần suất dày góp phần làm nên nét duyên riêng, đầy sức gợi cho thơ.
Dù đã nói khá nhiều về vẻ đẹp của tập thơ ở hình thức, cách thức biểu đạt, tôi vẫn muốn đề cập đến vẻ đẹp ở khía cạnh khác của tác phẩm. Đó là vẻ đẹp của tư tưởng – vẻ đẹp của cảm hứng thiền. Đây cũng là tư tưởng được thể hiện xuyên suốt các tác phẩm của Trần Huyền Tâm, từ “Giọt nắng vô thường”, “Diệu khúc thời gian”,“Tản mạn miền sương khói”, “Mây ngàn năm vẫn đợi”, “Khúc tâm du”, “Lưng túi gió trăng”, “Đường về”… và bây giờ là “Bên trời neo gió”. Đọc thơ Thiền nói chung và những bài thơ của Huyền Tâm nói riêng, người đọc sẽ thấy tâm hồn như được gột rửa, trở nên thanh sạch hơn, hướng về thiện lành, trong sáng. Trong tác phẩm “Nợ duyên”, Tâm nhắn gửi:
“Lặng thinh gánh nỗi phong trần
Chút thanh tao chắc tới phần nay mai
Lòng lành thiện giải trần ai
Hong mây cho trắng nét ngài cõi thiên
Để xưa trong vắt tịnh nguyên
Hồn nhiên kết lại chút duyên trả đời”
Mỗi bài thơ Tâm viết không chỉ là để ký thác những cảm xúc, suy tư, mà hơn hết mỗi bài đó đều là một phương tiện để biểu đạt tư tưởng hướng Thiện, hướng về bản nguyên trong trẻo, đẹp đẽ của vũ trụ, của con người. Thơ như lời thức tỉnh: Con người hãy biết sống thiện lành, biết buông bỏ những sân si, dục vọng... để được quay về:
“Bao năm nhạt bóng phai hình
Cao xanh giờ đã cho mình có ta
Để rồi đòn gánh nở hoa
Hạc vàng mây trắng đón ta về mình”
Trong bài “Nắng về Thiên quốc” những câu thơ của Tâm như bức tranh về cõi thênh thênh tươi đẹp:
“Hồng trần mấy nẻo phù du
Đâu hay cánh bướm Trang Chu khát về
Dáng thiền thức giữa cơn mê
Sen vàng độ những bước về tươi vui
Nhạc thiều khúc mới tinh khôi
Đường về thiên giới ngợi ngời thang mây”
Lời nhắn gửi “tìm về”, “quay về” luôn vang lên như khắc sâu, như nhắc nhớ lời thề nguyền hẹn ước ngàn năm:
“Dõi theo tám hướng tứ bề
Thiên thanh vẫn thắp lời thề năm nao”
Hoặc:
“Thênh thênh những bước sum vầy
Quảng Hàn cung lại tràn đầy ánh khuê
Người xưa quy khứ lai hề
Nắng chiều viên mãn bước về thiên thanh
Mất huyền lại ngút trời xanh
Thiên cung chốn cũ viên thành giấc tiên”.
(Tìm người nơi ấy)
Trong thơ mang cảm hứng thiền của Tâm hay nhắc đến từ “Người xưa”. Có người từng lầm tưởng “Người xưa” mà Tâm nói là “người yêu cũ”. Thực ra đây là từ dùng để chỉ chính ta. Ta - con người của ta xưa - con người của bản nguyên lương thiện chân thành. Nhớ “người xưa” là nhớ lại, là khao khát tìm về với bản ngã của chính mình, với bản chất chân thật, thiện lành và bao dung, yêu thương của con người.
Theo quan niệm của nhà Phật, trần gian là “cõi diêm phù, là bể đầy nước mắt”. Con người bị cuốn đi, phải vất vả trong cuộc mưu sinh để thỏa mãn những nhu cầu không có điểm dừng, không ngừng thay đổi của chính mình. Họ đắm chìm trong ái, ố, hỉ, nộ, sân, si... tưởng chừng không lối thoát. Biết làm sao tìm được lại chính mình trong tự tại an nhiên?
“Tìm mình trong cõi mộng mê
Chênh chao đôi bóng tìm về nơi nhau
Thương mình khói tóc bạc nhàu
Vần thơ vỡ giữa xót đau nhân tình”
Ánh sáng trí huệ sẽ giúp con người tìm ra lối thoát: Ấy là biết buông bỏ, biết hướng thiện. Khi ấy, con người sẽ thoát khỏi cõi mê tìm được hướng quay về:
“Thấy mình nhẹ bỗng nỗi đời
Thang máy tọa giữa đất trời an nhiên
Bão dông thôi rắc ưu phiền
Bước về đã rạng nắng miền thiên thai”
(Tìm về giữa những lặng thinh)
Năm chục bài lục bát là biết bao khúc tâm tình thấm đẫm giá trị nhân văn, lấp lánh ánh sáng trí huệ giúp người đọc cảm nhận được bao điều sâu sắc. Đó là lý do vì sao các độc giả khi đọc thơ Trần Huyền Tâm lại luôn thấy tâm hồn mình thanh nhẹ hướng về những lẽ sống cao đẹp sáng tươi.
“Bên trời neo gió” thêm một lần bộc lộ vẻ đẹp tâm hồn của Trần Huyền Tâm. Trong đời sống, Tâm luôn là người bạn, người chị, người em tận tụy, nhiệt tâm. Làm việc gì cũng hết lòng, chu đáo. Sống thiện lành và yêu thương. Là một nhà ngoại giao, lại thêm trọng trách của một người làm công tác quản lý, dù bận mải với bao công việc của đời thường, nhưng Trần Huyền Tâm vẫn luôn dành thời gian cho văn chương. Ngoài việc sáng tác của riêng mình, Tâm còn là Trưởng ban biên tập của Nhà Búp, luôn cần mẫn cùng người thầy văn chương của “Nhóm Búp trên cành” - Nhà thơ Kim Chuông nâng niu, biên tập cho bạn bầu từng bài thơ, câu chuyện, chắp cánh cho từng tác phẩm đến được với bạn đọc xa gần. Ở Trần Huyền Tâm, thơ ca và nghề nghiệp không tách rời mà soi chiếu lẫn nhau, một bên là tiếng nói của cảm xúc, một bên là nghệ thuật đối thoại - cả hai cùng hướng tới sự thấu hiểu con người.
Với Tâm, những tác phẩm văn chương, nghệ thuật không đơn thuần chỉ là “Bức tranh phản ánh hiện thực cuộc sống” để “Ai soi vào cũng thấy có mình trong đó”, mà nó còn mang một sứ mệnh thiêng liêng - Đó là lời nhắn nhủ, nhắc nhớ con người tìm về những giá trị sống cao đẹp, thiện lành. Đọc Tâm tôi hiểu rõ hơn vì sao nhà thơ Huy Cận lại nhận xét “Cái đích đến cuối cùng của thơ là: Nâng sự sống dậy”. Có thể nói: “Bên trời neo gió” là một tập thơ Đẹp. Cái đẹp tỏa ra từ nội dung và từ tư tưởng nhân văn. Đẹp bởi hình ảnh, ngôn từ và cách thức thể hiện vừa truyền thống, vừa hiện đại. Đẹp của Đời và của Đạo được thể hiện trong từng vần thơ của tác phẩm chính là cái đẹp từ tình cảm, từ tấm lòng yêu thương con người của tác giả, đúng như lời một nghệ sĩ thiên tài từng nhắn nhủ: “Không có gì đẹp hơn bản thân lòng yêu quý con người”.
Ngày 15/04/2026
Bùi Thị Biên Linh
Từ khóa:
thơ lục, bát của, trần huyền, có thể, văn học, thơ tâm, cảm nhận, sâu sắc, thơ như, sứ mệnh, thanh tao, nhà ngoại, văn chương, nghệ thuật, cảm hứng, hướng về, tác phẩm, 50 năm, trong sáng, tác của, hướng tới, tập thơ, sức gợi, bên trời, neo gió, không phải, sống để, không chỉ, của nhà, tác giả, bao giờ, của con, cảm xúc, mỗi bài, là một, ký ức, những vần, lục bát, mộc mạc, trở nên



