• dau-title
  • Lý luận - Phê bình
  • cuoi-title

Đọc "Bên trời neo gió" của Trần Huyền Tâm

Thứ hai - 22/06/2026 11:15



(Ảnh: Nhà thơ Trần Huyền Tâm và Nguyễn Thị Toán tại Hồ Núi Cốc - tháng 7/2025)

Đọc “Bên trời neo gió” của Trần Huyền Tâm

Nhà thơ Nguyễn Thị Toán


Trần Huyền Tâm sinh năm 1965 tại Mê Linh - Đông Hưng – Thái Bình. Chị không chỉ là Nhà ngoại giao có nhiều cống hiến, gắn bó với Cục Lãnh sự Bộ Ngoại giao trong suốt cuộc đời công tác (từ năm 1988 đến 2020) mà còn là Nhà thơ trưởng thành từ trại hè sáng tác thiếu nhi Búp trên cành do Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Thái Bình tổ chức cách đây nửa thế kỷ. Từ nhỏ Trần Huyền Tâm đã bộc lộ một năng khiếu thơ đặc biệt qua những thi phẩm đạt giải cao trong các cuộc thi sáng tác thiếu nhi do Báo Thiếu niên tiền phong, Ủy ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước, Tổng cục Thống kê, Tổ chức Nông - Lương thế giới (FAO), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO), v.v. phát động. Ngoài rất nhiều sáng tác được in trong Tạp chí Búp trên cành, Báo Thiếu niên Tiền phong, Báo Văn nghệ, được đọc trong chương trình thiếu nhi của Đài tiếng nói Việt Nam, tính đến nay Trần Huyền Tâm đã có một gia tài văn chương khá đồ sộ gồm 19 tập văn, thơ được xuất bản và ra mắt bạn đọc. 


Tập thơ “Bên trời neo gió” của Trần Huyền Tâm là một hành trình thi ca trải dài nửa thế kỷ (1/1976–12/2025), không chỉ ghi dấu sự trưởng thành của một giọng thơ lục bát, mà còn phản chiếu những biến chuyển sâu sắc của tâm hồn - từ hồn nhiên, quê kiểng đến chiêm nghiệm, giác ngộ. Đọc trọn vẹn 50 bài thơ, người đọc có cảm giác như đang đi qua ba miền cảm xúc: tuổi thơ, đời và đạo - được kết nối bằng một sợi chỉ xuyên suốt: nỗi nhớ và khát vọng “tìm về”. Tập thơ có ý nghĩa đặc biệt khi ra đời đúng vào dịp kỷ niệm 50 năm Búp trên cành của các cây bút thiếu nhi Thái Bình năm xưa.
Những bài thơ đầu tiên như “Bên cầu ao”, “Gói bánh chưng Tết”, “Đêm trăng quê em” mang đậm hơi thở của một làng quê Bắc Bộ thanh bình, nơi mọi thứ đều gần gũi, giản dị nhưng đầy chất thơ. Trong “Bên cầu ao”, bức tranh tuổi thơ hiện lên thật sống động: 


“Em ngồi em ngắm tím hoa bồng bồng
… Bốn bề inh ỏi tiếng ve
Rủ em cùng với trưa hè làm thơ”.


Ở đây, không chỉ có cảnh mà còn có trạng thái tâm hồn. Tiếng ve không chỉ là âm thanh mùa hè, mà còn là “lời mời gọi” thi ca, tạo nguồn cảm hứng bất chợt để bài thơ ra đời. “Thi sĩ nhí” đã nhìn thế giới bằng con mắt trẻ thơ của mình - nơi thiên nhiên và con người hòa làm một. Đặc biệt, hình ảnh: “Hình như nắng cũng trổ bông hoa vàng” là một sáng tạo rất đẹp. “Nắng” vốn vô hình, nhưng qua cảm nhận của “em”, nó trở nên hữu hình, có sắc, có hương - như một loài hoa. Điều này cho thấy cô bé mới hơn 10 tuổi ấy đã có một trí tưởng tượng vô cùng phong phú, tinh tế và một tâm hồn thật giàu rung cảm trước cái đẹp của thiên nhiên và cuộc sống đang hiện hữu. Trong “Gói bánh chưng Tết”, không khí gia đình được tái hiện rất chân thực: “Bếp hồng nâng ngọn khói êm/ Củi reo, lửa múa, bánh rền thật ngon”.


Các động từ “reo”, “múa” khiến cảnh vật trở nên hết sức sống động. Bếp lửa không chỉ là nơi nấu ăn, mà còn là không gian hội tụ ngập tràn niềm vui của tình thân. Chi tiết: “Mẹ cho em cái bánh con” là một nét chấm phá đầy xúc động thể hiện tình yêu thương giản dị mà sâu sắc. Chỉ với câu thơ ấy thôi tác giả đã động chạm đến miền ký ức thân thương, xúc động nhất trong tâm khảm mỗi người Việt Nam khi nhớ về tuổi thơ bên mẹ cha yêu dấu mỗi dịp Tết đến, Xuân về! Có thể nói, ở giai đoạn này, thơ của Trần Huyền Tâm đã để lại ấn tượng sâu sắc bởi vẻ đẹp hồn nhiên, trong trẻo với nhiều sáng tạo trong thế giới hình tượng nhưng vẫn đậm chất dân gian được viết bằng thể thơ lục bát truyền thống – một thử thách khó khăn với người cầm bút nhỏ tuổi. 


Bước vào giai đoạn sau, khi cuộc sống trải qua bao sóng gió, giọng thơ chuyển sang suy tư, chiêm nghiệm. Cuộc đời hiện lên với nhiều biến động, mất mát. Trong bài “Cầm vàng đừng để vàng rơi”, tác giả mượn lời ca dao để triển khai một triết lý sâu sắc: 


“Giá xưa mình đừng vội sang

Thì nay đâu phải tìm vàng đã rơi...”.

“Vàng” ở đây phải chăng là biểu tượng của tình yêu, cơ hội, giá trị sống. Sự “đánh rơi” không chỉ là mất mát vật chất mà là nuối tiếc tinh thần.
Đặc biệt, câu:
“Bao năm lạc bóng méo hình/ Làm sao về được là mình, mình ơi?!” đã chạm đến một vấn đề hết sức cấp bách trong cuộc sống hiện đại. Câu thơ là câu hỏi đầy nhức nhối và cũng là hồi chuông cảnh tỉnh: phải làm sao đây khi con người đánh mất chính mình trong cuộc sống xô bồ hôm nay? 


Trong bài “Thử”, tác giả nhìn đời như một phép thử: 

“Thử người tãi nắng lên đầu

Ngón tay lỡ nhịp rớt sầu xuống sông”


Hình ảnh “rớt sầu xuống sông” vừa cụ thể vừa tượng trưng – nỗi buồn như một vật thể có thể rơi, có thể trôi. Điều này cho thấy đặc điểm nổi bật trong tư duy thơ của Trần Huyền Tâm chính là ở cách cảm nhận đời sống bằng hình tượng giàu chất thơ. Hay trong “Gửi miền phù hoa”: “Người còn bận phía phù hoa/ Nên lời hứa vẫn còn là lời suông!” – một lời trách nhẹ nhưng sâu sắc về sự hời hợt, thiếu chân thành trong đời sống con người. 


Một mạch ngầm xuyên suốt tập thơ là tình yêu gắn với duyên nợ và chia ly - tình yêu được nhìn nhận theo quan điểm Phật giáo, mang màu sắc định mệnh. Trong “Tìm về”: “Thương bao tan hợp bể dâu cõi người” - chỉ một câu đã gói trọn cả triết lý: tình yêu luôn đi cùng biến đổi, không bền vững trong cõi vô thường. 


Ở bài “Lời thương”: “Ta thương nhau tự bao giờ/ Mà thơ em cứ vẩn vơ tìm về”. “Thơ” ở đây chính là ký ức, là nỗi nhớ có hình hài. Tình yêu không mất đi, mà chuyển hóa thành thơ, thành nỗi nhớ. 

Đặc biệt, hình ảnh “Ô Thước” (cầu nối Ngưu Lang – Chức Nữ) xuất hiện nhiều lần trong thơ Trần Huyền Tâm như biểu tượng của tình yêu xa cách, gặp gỡ mong manh, đồng thời cũng là ẩn dụ cho thân phận con người: 

Mấy ngàn năm bấy ưu sầu
Mấy ngàn mặn chát nhịp cầu xe duyên…”
(
Chuyện tình cầu Ô Thước)


Càng đi sâu vào tập thơ ta càng cảm nhận rõ chiều sâu tâm linh và hành trình giác ngộ của thi sĩ. 


Trong bài “Tìm về giữa những lặng thinh”, ta thấy rõ hành trình nội tâm: 
 

Thấy mình về giữa lặng thinh

Nghe trong sâu thẳm biết mình có ta”


Đây là trạng thái tự nhận thức, khi con người quay vào bên trong để tìm bản thể của chính mình. 


Hay trong “Nhặt chữ”: “Chữ Thiện tọa giữa địa đàng/ Chữ Chân đặt thẳng, chữ quàng xếp nghiêng”.  Với thi sĩ giờ đây thơ trở thành công cụ tu dưỡng, mỗi “chữ” là một giá trị đạo đức. Trong “Đọc sách”: “Chân tâm kiến tính Bồ Đề” - Trần Huyền Tâm đã trực tiếp đưa tư tưởng Phật gia vào thơ. Tuy nhiên ý thơ không hề khô khan, mà hòa quyện tự nhiên với cảm xúc. 


Đặc biệt, bài “Với cát” mang tính triết lý cao:

“Hạt nào còn vướng tấm tình thế gian
Hạt nào rạng rỡ Phật quang…”
.

Ở đây “Cát” đã trở thành biểu tượng của vô số kiếp người, mỗi hạt mang một số phận.


Bài thơ “Bên trời neo gió” cũng là nhan đề tập thơ chính là chìa khóa tư tưởng: “Vô thường neo ngọn gió trời về nhiên…”. “Neo gió” là một nghịch lý bởi “gió” vốn vô hình, không thể giữ, nhưng con người vẫn muốn “neo” - giữ lại, ổn định. Đây là hình ảnh ẩn dụ cho khát vọng tìm sự an yên giữa vô thường - không phải chống lại cuộc đời, mà là hiểu và buông, để đạt đến trạng thái “về nhiên” – thuận theo tự nhiên, thuận theo đạo.


Về phương diện thể loại: “Bên trời neo gió” của Trần Huyền Tâm giữ vững nhịp điệu lục bát và có nhiều sáng tạo về ngôn từ, hình ảnh. Bên cạnh ngôn ngữ dân gian mang đến cho thơ vẻ đẹp thân thuộc, mộc mạc: trầu cau, giếng nước, con cò v.v…là những hình ảnh mới, cách diễn đạt mới mẻ, độc đáo, thú vị: “chưng cất nắng”, “vẽ tuổi”, “nhặt chữ”v.v., sự kết hợp linh hoạt các từ ngữ Hán -Việt tạo thêm chiều sâu triết lý cho ý thơ. Chẳng hạn câu thơ:

“Bỏ công chưng cất nắng trời
Một chiều cả rét rót mời gió Đông”


(mở đầu bài thơ “Cất nắng”) là một cách nói rất hiện đại trong khuôn khổ của lục bát truyền thống. Câu thơ đặc sắc vì sử dụng hình ảnh ẩn dụ sáng tạo: “chưng cất nắng” – biến cái vô hình (nắng) thành một thứ có thể chắt lọc, tích lũy, như chắt lọc, gìn giữ lại những ấm áp, yêu thương giữa cuộc đời nhiều lạnh lẽo.


“Bên trời neo gió” không chỉ là một tập thơ, mà là một cuốn nhật ký tâm hồn hơn nửa thế kỷ - một hành trình từ tuổi thơ hồn nhiên đến sự giác ngộ, một tiếng gọi trở về với chính mình. Tập thơ để lại dư âm sâu lắng bởi nó chạm tới những điều căn bản nhất của con người: Ta từ đâu đến? Ta đã đánh mất điều gì? Và ta sẽ trở về đâu? 

Trong dòng chảy thơ ca đương đại, trong khu vườn đa sắc của thi ca “Nhóm Búp” trưởng thành từ vườn ươm “Búp trên cành” năm xưa của Hội Văn học Nghệ thuật Thái Bình, Trần Huyền Tâm đã chọn một lối đi riêng: lặng lẽ, truyền thống, nhưng thấm đẫm triết lý. Và chính sự lặng lẽ ấy đã tạo nên một sức ngân dài, vang vọng - như ngọn gió mãi còn “neo” lại giữa bầu trời thi ca.

 

Sài Gòn, tháng 4/2026

Nguyễn Thị Toán

 

Các bài viết liên quan:

Những tác phẩm cũ hơn:

Những tác phẩm mới hơn:

 
Mời các Tác giả gửi bài cộng tác cho Ban Biên tập Nhà Búp qua hộp thư email: nhabup.vn@gmail.com
Văn phòng Thường trực Ban Biên tập Nhà Búp: Số 24, Lý Thường Kiệt, Q. Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội;
Ngoài địa chỉ: www.nhabup.vn, bạn có thể truy cập vào website này qua các tên miền quen thuộc: www.nhabup.net hoặc www.nhabup.com
Website đang được thử nghiệm và điều hành phi lợi nhuận, bởi các tình nguyện viên.