• dau-title
  • Lý luận - Phê bình
  • cuoi-title

“Bên trời neo gió” – Bản trường ca của một tâm hồn tự tại

Thứ sáu - 10/07/2026 10:36









"BÊN TRỜI NEO GIÓ" - BẢN TRƯỜNG CA CỦA MỘT TÂM HỒN TỰ TẠI
TS. Đào Thanh Bình
 
Cầm tập Lục bát trên tay, theo thói quen của người chuyên đọc luận án, tôi lật trang đầu, trang cuối, lướt một lượt tiêu đề các bài thơ, tôi giật mình thảng thốt. Con số 50 đập vào mắt tôi, đánh thức ký ức của tôi và Tâm từ thời Búp Trên Cành, nhắc nhở tôi: Đây đâu phải là tập thơ bình thường. Tôi đã dành nhiều ngày, đọc đi đọc lại tập thơ.
Tại sao vậy? Vì Thơ là cảm xúc. Mà tôi thì yêu Tâm cũng từ ngày ấy, đến nay, có lẽ cũng đủ 50 năm rồi, nên tôi sợ, cảm xúc của Tâm, cảm xúc của tôi dắt tôi lạc đường. 
Cảm ơn Tâm đã trân trọng trao cho tôi cuốn nhật ký đời mình. Tôi biết, Tâm đã tuyển chọn rất kĩ và có ý thức về tuyến thời gian cuộc đời, nên tôi đã đọc nó theo cách ấy để thấy Tâm, hiểu Tâm, trân trọng Tâm - Tâm của hôm qua và hôm nay, Tâm của gia đình, của Nhà Búp, của thế giới các nhà văn và của quê hương. 
“Bên trời neo gió” chắc chắn không chỉ là sự tích lũy về số lượng, bởi nếu tập tuyển tập Thơ Lục bát của Tâm chắc gấp nhiều lần nữa.
 “Bên trời neo gió” là sự trưởng thành của Cô Bé Tâm thành Bà Tâm với tư cách một nhà ngoại giao, nhà thơ được giới văn nghệ và xã hội ghi nhận. Thơ của Cô Bé Tâm ngày xưa và của Nhà thơ Trần Huyền Tâm ngày nay cũng theo đó mà trưởng thành, có nhân tốt từ sớm, nên từ Búp thành Hoa và kết Trái cho hôm nay, chín thơm và ngát hương. 
Năm mươi năm, kể từ những ngày đầu cầm bút viết thơ lục bát (1976), thơ Huyền Tâm cũng là  một cuộc trưởng thành mạnh mẽ về tư tưởng khi Tâm từng bước ngộ ra ý nghĩa nhân sinh của đời người, để bây giờ thấu đáo: Ta là ai? Ta từ đâu tới? Mục đích cuộc nhân sinh là gì? Làm thế nào để quay trở về?
Hành trình 50 năm, qua 50 bài lục bát, dần hiện ra, ngày càng rõ hơn chân dung một nhà thơ, chân dung nhân cách sĩ phu hiện đại, chân dung NGƯỜI, với tâm hồn giàu chất thơ, yêu thiết tha cội nguồn; với trí huệ đủ thông tuệ để can đảm lựa chọn rũ bỏ bụi trần để tìm về bến giác. 
Để hiểu Tâm, chắc chắn cần hiểu Thơ Tâm cùng Trí và Tâm qua từng bước trưởng thành:
1. Tâm thuở "Búp trên cành": Rất trong trẻo và đã kịp có những phác họa đầu tiên căn tính Người Quê Hương
Ở những năm 1976-1982, lục bát của Tâm là tiếng reo vui của một tâm hồn chưa vướng bụi đường. Những câu thơ như những nét vẽ sơn dầu rực rỡ về làng quê Thái Bình, nơi Tâm sinh ra và lớn lên.
Đây là ao quê qua mắt nhìn Cô Bé Tâm tuổi lên 10:
“Thòng đong, sặc xụi mơ màng
Lượn lờ đớp bóng cả giàn hoa sai
Ễnh ương chừng đã thuộc bài
Thẳng chân đánh một giấc dài rõ phê”
(Bên cầu ao, 1976)
Cách Tâm quan sát, gọi tên những con vật bé nhỏ, miêu tả cử động và hành vi của chúng, bày tỏ cảm xúc của mình rất tinh nghịch, đáng yêu, cho thấy một đôi mắt trẻ thơ biết quan sát và yêu thương vạn vật. Đây chính là cái gốc của lòng thiện – khả năng rung động trước một nhịp sống nhỏ bé nhất của thiên nhiên.
Đây là nắng quen trong mắt Tâm:
“Nắng vui theo bước ngàn dâu
Đậu vào nong kén nhuộm màu sợi tơ
Rạng ngời trang sách em thơ
Điểm mười hoa nắng ước mơ mãi hồng...” (Nắng sớm, 1981)
16 tuổi, với Tâm, “nắng” không chỉ là hiện tượng thiên nhiên mà như một người bạn đồng hành: "vui theo bước", "đậu vào nong kén". Những câu thơ kết nối hài hòa giữa lao động của cha mẹ (ngàn dâu, sợi tơ) và học tập của cô bé (trang sách, điểm mười), vẽ nên một tâm thế sống đầy nỗ lực và trách nhiệm của tuổi trẻ.
 
2. Tâm yêu thương đầy hơn cùng sự "chín" dần trong nhận thức. Tâm đi qua bể dâu để thấu hiểu nhân quả.
 
Khi bước vào tuổi trung niên, thơ Tâm không còn dừng lại ở tả cảnh. Lục bát lúc này trở thành công cụ để giải mã những nỗi đau và sự va đập của số phận.
 
“Qua Nại Hà, uống nước quên
Mà sao vẫn vướng nghiệp duyên thế này?!
Vôi vẫn bạc, trầu vẫn cay
Vàng không tiếc, tiếc kẻ say đắm mình”
(Cầm vàng đừng để vàng rơi, 2018)
Một lời tự vấn đầy tỉnh táo. Tâm dùng hình ảnh "Nại Hà", "nghiệp duyên" để soi chiếu thực tại. Câu thơ “Vàng không tiếc, tiếc kẻ say đắm mình” là một phát hiện nhân sinh đắt giá: Cái đáng tiếc nhất không phải là mất đi vật chất, mà là đánh mất bản ngã trong những cơn say của danh lợi.
“Duyên tình trao gửi nơi nhau
Cũng là vay trước trả sau thôi mà...
Ngước trông về cõi bao la
Giật mình... chốn cũ nhạt nhòa khói sương” (Nói với người xưa, 2018)
Triết lý nhân quả hiện lên nhẹ nhàng nhưng sâu cay. Cái nhìn "vay - trả" giúp tác giả tháo gỡ những oán hận tình trần. Cái "giật mình" bừng tỉnh khi nhận ra mình đã quá mải mê trong cõi tạm mà quên mất nẻo về thanh tịnh nguyên sơ, là bước tiến trong nhận thức và chuyển hóa tư tưởng để trưởng thành, thật đáng trân trọng.
3. Tâm và Phong cách "Thiền thi": Sự thăng hoa của ngôn ngữ và tâm thế thoát tục trong thơ Tâm được định hình ngày càng rõ nét, đồng nhất với sự trưởng thành về nhận thức và tư tưởng
 
Giai đoạn 2019-2025 là đỉnh cao của Tâm, được kết trái qua tập thơ lục bát. Tâm không còn là người quan sát cuộc đời, mà đã trở thành người chủ động kiến tạo sự bình yên cho mình và cho những người thân yêu bên Tâm, tin Tâm, tin vào “Chính Pháp” mà Tâm đã chọn.
“Ta về vét cạn ưu sầu
Cất phiền cho tóc bớt nhàu tả tơi.
Cởi duyên xưa, nín gió trời
Để lá chín, chẳng rụng rơi, ngậm ngùi”
(Tơ trời, 2018)
Bài thơ lấy tựa “Tơ trời” gợi ta nhớ về nong tằm trong thơ Tâm từ những năm 1976. Giờ đây, Tâm cũng như con Tằm, oằn mình "vét cạn", "cất phiền", "cởi duyên", nhả tơ óng mượt. Một nội lực tu tập thật sự rất thâm hậu. Tâm không trốn chạy nỗi đau, mà đối diện để dọn dẹp nó. Hình ảnh “Để lá chín, chẳng rụng rơi” là một biểu tượng tuyệt đẹp cho sự viên mãn: Sự ra đi hay ở lại không còn quan trọng bằng tâm thế "chín" – sự thấu suốt quy luật sinh diệt.
“Ta giờ vui với tịnh nguyên
Chẳng hoài nhắc gió nhớ quên một thời
Mùa qua, nắng cũng nhạt rồi
Đâu hay bóng gió bên trời vì ai”
(Với gió, 2025)
 
Sự thản nhiên đến mức tuyệt đối. Khi đã đạt đến trạng thái "tịnh nguyên", mọi ký ức về "nhớ - quên" hay "vì ai" đều trở nên nhẹ bẫng. Cái nắng nhạt, bóng gió bên trời không còn làm xao động lòng người, thể hiện một bản lĩnh an nhiên giữa dòng đời lộng gió. Tâm là thế, Tâm đã đạt được điều đó.
4. Nhân cách nhà thơ- nhân cách Tâm: Sự hòa quyện giữa Trí thức và Chân đạo
Điểm đặc biệt nhất làm nên phong cách của Tâm chính là sự kết hợp giữa tri thức bác học và lòng mộ đạo chân thành.
“Chữ Thiện tọa giữa địa đàng
Chữ Chân đặt thẳng, chữ quàng xếp nghiêng
Chữ An cho đoạn vẹo xiên
Cho vơi cay đắng, ưu phiền nơi nhau”
 (Nhặt chữ, 2019)
Tôn chỉ sống được viết bằng thơ và cảm xúc, lay động tâm thức ta thật mạnh mẽ. Tâm "nhặt chữ" như nhặt từng thỏi vàng mười vuông vức xây dựng tòa tháp nhân cách cho chính mình và cho cả những người yêu Tâm. Sự bao dung hiện lên rõ rệt hơn khi Tâm dùng chữ "An" để nắn lại những "đoạn vẹo xiên" của cuộc đời; khi Tâm nhìn nghịch cảnh bằng sự thấu hiểu, để mỗi nghịch cảnh như lửa thử vàng, vàng càng rực sáng hơn.
“Đắc Chính Pháp, bỏ sân si
Thực hành chân thiện, từ bi, nhẫn nhường
Cùng Thầy chính cõi vô thường
Hiền thần viên mãn bước đường hồi thiên”
(Nhắc bạn, 2020)
Tâm chọn đức tin, chọn chính Pháp cho mình, mong muốn mọi người có thể ngộ được như mình, nhưng không vội vàng, vồ vập, chỉ là “nhắc bạn”, mỗi ngày một chút, rồi kiên trì đợi nhau. Bài thơ như một bản kinh bằng lục bát, khẳng định mục đích sống cao nhất của Tâm. Không còn là những vần thơ tình tự thông thường, đây là tiếng lòng của một hành giả đang trên đường "hồi thiên". Nhân cách nhà thơ lúc này hòa quyện trong tinh thần Từ bi và Nhẫn nhường, hướng về sự vĩnh hằng.
 
5. Tâm với cốt lõi văn hóa cội nguồn: Quê hương - "Sợi dây neo" di sản nhân văn
Dù tâm hồn đã vươn tới những cõi xa xôi, tác giả vẫn giữ một lòng hiếu nghĩa vẹn tròn với mảnh đất Thái Bình – nơi bắt đầu của "Búp trên cành". Thái Bình là nôi với ầu ơ lời mẹ ru, Thái Bình cũng là nôi văn chương của Tâm và bầu bạn của Búp trên cành năm xưa.
“Quê đâu chỉ bởi cái tên
Quê là tất cả nỗi niềm thương yêu
Phải duyên thì bắc cầu kiều
Giá gương đâu ngại nhiễu điều phủ quên”
(Quê ơi!, 2025)
Tâm đã định nghĩa về quê hương vô cùng ấm áp. Tác giả vận dụng khéo léo chất liệu dân gian (cầu kiều, giá gương, nhiễu điều) để khẳng định: Quê hương chính là đạo đức, là lòng biết ơn. Đây là lời nhắc nhở thế hệ sau rằng: Dù bay cao bao nhiêu, cũng đừng quên mảnh đất đã nuôi dưỡng tâm hồn mình. Khi lấy quê hương và giá trị văn hóa là lòng biết ơn, thơ Tâm không chỉ là của Tâm, thơ Tâm là của gia đình, học tộc, bạn bè, quê hương. 
 
"Bên trời neo gió" – Một biểu tượng của sự tự tại. 
 
Tập thơ khép lại bằng một lời tổng kết về quy luật nhân sinh:
“An yên nhân quả cho đời
Vô thường neo ngọn gió trời về nhiên…”
(Bên trời neo gió, 2025)
Câu thơ kết bài, kết tập là một sự "đốn ngộ", khiến người ta thức tỉnh tức thời. Gió trời vốn vô định, nhưng khi tâm ta đã đủ tĩnh, ta có thể "neo" nó lại bằng chính sự am tường nhân quả. Tác giả đã biến những biến động của ngoại giới thành năng lượng của sự thong dong.
Tôi yêu thơ Tâm, và như bao lần tôi vẫn nói, là bởi thơ Tâm có đủ các giá trị văn hóa của quê hương đất nước, có đủ trải nghiệm và sự trưởng thành cả về lượng và chất, đủ ấm áp bao dung để những người yêu Tâm, yêu thơ tìm về mỗi khi lòng chưa an ổn. Đọc thơ lục bát của Tâm, tôi cảm nhận nhịp thở Tâm đều, khỏe, đầy nội lực, như thế 50 năm qua và có lẽ còn lâu hơn nữa.
Hẹn đọc Nhật ký Đời Tâm 50 năm tiếp nhé, khi hai ta cùng 100 tuổi, viên mãn và vĩnh hằng!
 
Hà Nội, tháng 4 năm 2026
Đào Thanh Bình


Các bài viết liên quan:

Những tác phẩm cũ hơn:

Những tác phẩm mới hơn:

 
Mời các Tác giả gửi bài cộng tác cho Ban Biên tập Nhà Búp qua hộp thư email: nhabup.vn@gmail.com
Văn phòng Thường trực Ban Biên tập Nhà Búp: Số 24, Lý Thường Kiệt, Q. Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội;
Ngoài địa chỉ: www.nhabup.vn, bạn có thể truy cập vào website này qua các tên miền quen thuộc: www.nhabup.net hoặc www.nhabup.com
Website đang được thử nghiệm và điều hành phi lợi nhuận, bởi các tình nguyện viên.