• dau-title
  • Lý luận - Phê bình
  • cuoi-title

Chu Xuân Giao - Vân Quốc :Thơ từ "khoảng tập mờ" tới nguồn sáng phát lộ

Thứ bảy - 13/06/2026 11:32




(Ảnh: Nhà thơ Chu Xuân Giao - Vân Quốc)



CHU XUÂN GIAO – VÂN QUỐC
THƠ TỪ “KHOẢNG TẬP MỜ” TỚI NGUỒN SÁNG PHÁT LỘ

Nhà thơ KIM CHUÔNG
Nguyên Phó Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Thái Bình
Tổng Biên tập Tạp chí Văn nghệ Thái Bình


Trong đội ngũ “Các Nhà văn nhóm Búp” -  những người cầm bút đi từ “Lò luyện Văn chương” của Hội Văn học Nghệ thuật Thái Bình từ những năm 1976 – 1998, tôi thường dừng lại “Ngắm trông” và “Nghĩ” về Chu Xuân Giao, về “Bút danh Vân Quốc” – Một gương mặt Thi nhân thật quý yêu và “Lạ”.

QUÝ YÊU - bởi Chu Xuân Giao – Vân Quốc sinh ra và lớn lên từ một gia đình, một đất làng giàu truyền thống hiếu học. Với cái hiểu: “Văn - Điền dã” “Hiến – Hiền dã” (1) … Thì, “mảnh đất đứng vào hàng đệ Nhất” xứng danh “làng văn hiến” Trình Phố – Tiền Hải – (Xứ Sơn Nam Hạ - thuở nào, quê anh)  đã rạng ngời tuổi tên của Chí sĩ yêu nước: Ngô Quang Bích với “Ngư phong thi tập”. Với câu thơ “Nhất phiến đan tâm phù xã tắc/ Bán sinh bạch phát chiến sa trường” (Nghĩa: Một tấm lòng son phò đất nước/ Nửa đời tóc bạc chiến sa trường”.  

Rồi, Ngô Quang Đoan, (sĩ phu thời Cần vương) với câu thơ hào khí: “Trăng dựng Cồn Vành soi giữa dạ”… Buổi ông cưỡi ngựa tuần tiễu trên một vùng biển lớn ở Tiền Hải, Thái Bình. Rồi, Vị sứ thần Bùi Viện, người đầu tiên và hai lần đến với Nước Mỹ. Người một thời, góp công mở Cảng biển Ninh Hải, Hải Phòng. 

Chu Xuân Giao – Vân Quốc đi từ nền móng và nguồn mở tự đất làng quê ấy. Chàng “Thi sĩ Họ Chu” này được phát hiện và “triệu về” “Lớp đào tạo – bồi dưỡng các em có năng khiếu sáng tác văn học” của tỉnh từ khi mới hơn chục tuổi đầu. Để rồi, ba bốn mùa hè tham dự Trại sáng tác, Giao đam mê viết và có bài in đều trên các trang báo chí văn nghệ. 

Năm 1988 Chu Xuân Giao từng vinh quang ngắm tên mình trong “Kim bảng danh đề” với “Giải thưởng Chính thức” được trao tại cuộc thi sáng tác văn học trên cả nước dành cho các em, mang tên “Những Bức thư gửi bạn”.  

Năm 1994, sau khi tốt nghiệp Khoa Ngữ văn - Trường Đại học Khoa học Xã hội Nhân văn và Đại học Quốc gia Hà Nội, Chu Xuân Giao trở thành Tiến sĩ - Nhà nghiên cứu Văn hóa Dân gian. Rồi, Phó Viện trưởng Viện Nhân học Văn hóa (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam).

Là chuyên gia nổi tiếng trong lĩnh vực nghiên cứu nhân học và văn hóa Việt, Chu Xuân Giao từng gây được tiếng vang trong giới học thuật ở các công trình nghiên cứu chuyên sâu  về di sản tín ngưỡng và văn hóa dân gian Việt Nam, về di sản Hán Nôm và các sự kiện trong phong trào Đông Du, về các Dân tộc và các Tộc người trên đất nước; Là người từng nhiều năm sống, nghiên cứu và làm việc trên đất nước Trung Quốc, Nhật bản, Hàn Quốc, Anh quốc,…. cùng nhiều chuyến công cán, công du trên khá nhiều châu lục, nhiều xứ sở xa lạ … Tất cả những trải nghiệm từ “cái Gặp”, “cái Thấy” này đã đem về cho Chu Xuân Giao “cái Biết”. Cái lấp lánh ở những “Hạt phù sa” nơi Bến bờ kết tụ, “Cái” như Ngô Lai. Rồi, Nhà Bác học Lê Quý Đôn từng nói: “Nếu trong bụng không có ba vạn quyển sách, trong mắt không có nghìn vạn núi sông kỳ lạ của thiên hạ, thì làm sao có thể cầm bút, làm được văn chương”...  

Mấy chục năm qua, Chu Xuân Giao đã có những cống hiến đáng kể cho sự nghiệp nghiên cứu văn hóa dân tộc và công cuộc lao động, sáng tạo “Văn học Nghệ thuật” của mình từ những trầm tích nơi “Vỉa hồn, anh Có. ”

Bên cạnh những công trình nghiên cứu, Chu Xuân Giao – Vân Quốc còn say mê sáng tác thi ca.   

Với Thơ. Chu Xuân Giao – Vân Quốc viết bằng tiếng Việt, viết bằng tiếng Hàn, tiếng Nhật. Bằng thơ mình viết ra, rồi lại tự “Dịch ngược” lại “Thơ mình”.

Thơ Chu Xuân Giao – Vân Quốc từng ứng thí và giành được giải thưởng “Giải thưởng cao” trong cuộc thi “Sáng tác Thơ” ở đất nước “Mặt trời mọc.” Thơ từng được dịch ra tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nhật, tiếng Hàn.  

Thơ được chọn và giới thiệu trong “Tuyển tập Thơ Hay” với ý nghĩa “Thơ xuất ngoại”, “Thơ vượt biên”. Thơ đi qua những biên giới, lãnh thổ quốc gia đến với nhiều vùng công chúng rộng lớn khác.  

Có lẽ, “Cái Quý” ở Chu Xuân Giao – Vân Quốc, là vậy.            

Còn, “CÁI LẠ?”. Vâng. Trong số đông “Các Nhà văn Nhóm Búp”. với Thơ - Chu Xuân Giao – Vân Quốc không giống một ai. Anh là một gương mặt riêng. Giọng điệu, dáng vẻ riêng trên hành trình tìm kiếm. 

Với anh, đấy là “Sự thoát vượt”, sự “văng ra chính mình” để có một “Vũ trụ - Riêng mình” trong ý thức xác lập.

Nhiều người “đồ” rằng, đọc Chu Xuân Giao – Vân Quốc – Thi sĩ của một đời đắm mình trong Hán Nôm, đắm mình trong văn hóa dân gian, Thơ của anh sẽ là Ngũ ngôn, Lục ngôn, Thất ngôn, Đường Luật. Là “Lục bát” du dương. Là cánh cò, con sông. Là cây đa,  bến nước, sân đình. Là những gì thấm đẫm chất ca dao, tục ngữ … 

Nhưng không. Chu Xuân Giao – Vân Quốc, thật Riêng. Thật mới mẻ. Anh chọn đi trên “Nẻo tìm độc đạo”. 

Thơ Chu Xuân Giao – Vân Quốc với giọng điệu phóng túng, mới mẻ. Thơ với sự cách tân, hiện đại. Thơ bơi trong “Khoảng tập mờ”, bơi trong vô thức để gọi về “Ánh sáng”.

Thơ đi từ “Hiện thực – Ngoài Ta”, nhưng, không phải là hiện thực Ngoài Ta ở sự nắm cầm, hiện thực ở sự ngổn ngang, xô bồ, trần trụi. Mà, “Thực đấy” mà “Ảo đấy”. “Thực” mà “Là thế” - nhưng nó lại “không phải là thế”. Nó là “thế ấy, nhưng cái “thế ấy”, (vào thơ) đã hóa thành cái “Thế nào rồi”.  

Và, trên dòng thơ vận động, từ “Cụ thể - Trừu tượng”. Rồi, “Trừu tượng - với lại - Trừu tượng” kế tiếp nữa. Để, đẻ ra “Cái Cụ thể” mà người đọc cảm nhận trong mong manh, một cái Gợi. Cái cảm. Cái Linh. Cái “Ánh sáng” được gọi về từ “Khoảng mờ Vô thức”. Nhưng, ngay trong Ánh sáng của Ý thức vừa được tìm về, thì chính nó lại mở ra cái “Vô thức” mung lung, thấm chảy dài hơn nữa. 

Hãy đọc, thơ đi từ “khoảng tập mờ” này như lổi mở, lối tiếp cận trên trong “Vườn xưa” trước sự “Diện kiến” và mô tả của Nhà thơ:

… Vườn cũ
nhuộm
hương
vương

sương
hiên ướt bóng

 

thược trắng
trăng tơi
vãi
gió

 

rêu vẫn xanh
dế ủi
mùi xưa

 

ngõ lười
khô ngất lá …


tơ giăng 

hồn con

rời 

xác 

nhẹ 

hiu đêm
Đấy là một bức tranh “Vườn xưa” được Chu Xuân Giao – Vân Quốc mô tả, tái tạo.

Bức tranh “Mờ” với những chấm phá “Rời - Vụn”, ở đây, những “Cảnh Thực” như “Sương, trăng, Ngõ lười, Hồn con”… Một “hiện thực của “Ngoại giới” mà ngỡ như đây là “Hiện thực của “Mộng”, “Hiện thực” của Ảo, của “Hoài nghi, của cái do nhu cầu “Bên - trong - Hồn - Ta” mà hiện lên, đó chứ. 

Vâng. Những câu thơ Hay phải là câu thơ “Động”. Câu thơ vượt qua cái “Tĩnh”. Câu thơ có sức lay động và sức Gợi thế này: “Ngõ lười/ Khô ngất lá/… Tơ giăng/ Hồn con/ Rời/ Xác/ Nhẹ/ Hiu đêm”…   

Rồi: … Nơi máng nước/ con/ ngó/ lại nhà xưa Ôi! sao mắt cha/ khuya hút/ thinh/ như nắng/ không lời/… Thoảng/ đêm/  rơi/  tiếng/ sâu 

Bài “Vườn xưa” được kết ở câu: “Đêm/ Rơi/ Tiếng/ Sâu”. Đây là nghệ thuật khép lại ở Cái Đế” với lối “Thơ bỏ lửng”, lối “Từ tầng sâu “Mờ - Chìm”, tác giả để người đọc “Tự Nghe” và “Tự Tìm ra” “Tiếng vọng hồn mình”, ở “cái Cảm”, ở ý nghĩa “Nhận biết”. 

Một câu hỏi: Viết “Vườn xưa” tác giả nói gì? Gửi gắm điều gì? Vâng. Ở đây, có thể là: Qua mảnh “Vườn xưa” ấy, ta thấy được mối quan hệ hai chiều? Hay nhiều chiều khi “Khách thể” là mảnh vườn, khi Ta, mang “vai trò Chủ thể” đó chăng? Và, ở hai đối tượng đối lập và giao hòa ấy… sẽ là gì trong cái “Nó đẻ ra ??? ”… Hoặc, có thể là: Vì có (Vườn xưa) - “Cảnh - ấy” mới sinh ra “Tình ấy?”. Hoặc cũng có thể là: “Nơi ta nhận ra” ta nhiều hơn ở những gì từ “Đối thoại” đã mang về cho ta bao nhiêu là “Độc thoại” nặng đằm từ mảnh “Vườn xưa” kia, khi ta gặp lại… (Vân vân và v.v).

Đấy là “Thông điệp”. Là tư tưởng của Nhà văn muốn gửi về người đọc. 

Mở theo hướng đi này, ở khá nhiều bài thơ như: “Tàn thu” “Đôi khi”, “Tiếng khói”, “Linh cảm lịch sử”, “Thực – Thời đại chúng ta”. Rồi: “Đồng trinh chữ”. “Vết rạn trên tường”, “Chiếc búa thời gian”… Rồi, nhiều bài khác nữa. 

Vẫn là Chu Xuân Giao – Vân Quốc với cách tiếp cận và khai sáng, ngỡ đi từ “Trực giác” nhưng đấy là “Trực giác của riêng Anh”. Nó không phải là Trực giác của “Bề mặt”. Của “Thi nhãn” bộn bề, xương xẩu. Mà “Trực giác” của “Cái Thấy” đã được cô nén và tích lũy. Trực giác được lặn chìm vào “Bóng nước mờ xanh” nơi “Vía hồn” người viết, rồi kia!

Và đây. Lại thử đọc với một bài thơ khác của Chu Xuân Giao – Vân Quốc, với: “Ảo: Những mảng màu”:


không trăng giữa phố phường rã rượi
con đàn bú mẹ trong làn bánh trung thu bão nổi lợn âm dương 


những mảng tím
tràng đạn nhựa bắn vào gan
vũng nước bên đường
trầm vào giác mạc


… Những mảng nâu
ngời hàng phong ánh thu
rũ vàng
rẩy run hồ mây bát ngát

 

… Tượng đền
những mảnh màu bò ra tường
đẹp mê
đẹp òa ra từ mồ không hương đêm rằm khói khóc ăn trăng
đẹp bất tận lên từ ống hỏa thiêu bốc vào trời

những mảng màu
những nấm mồ
ở giữa
lặng lẽ những mắt
những mẩu đời đang tan
khí đọng thành màu
màu khô trên tường đang chảy vào những nấm mồ
rữa
ảo  …

Dễ thấy, là những ảnh hình, “thi liệu” ngỡ như “Rời”, “Không trật tự”. Nhưng khi đứng bên nhau, lại có sức liên kết, móc nối nhau, làm nên chất kết dính. “Đặng” làm bật dậy điều người viết muốn nói từ “Cái Cảm” nhiều hơn cái Nhìn trước “Nhỡn tiền chi sự”. Rằng: “Ảo - Những mảng màu” nơi góc đời Ta gặp kia, là gì? Trong nỗi niềm? Trong Ái - Ố? Trong va đập? Trong Dự cảm? Trong biến hóa? Trong “cái Tứ của Thơ?”. 

Rõ ràng,  Chu Xuân Giao – Vân Quốc vẫn lấy “cái Ảo”, cái mang mang trong “khoảng Mờ” khó nắm bắt. Để gây một “Ấn tượng”. Để người viết dẫn tới người đọc. Và, để chính những người đọc “Họ lại tự mình phải lấp đầy” những khoảng trống trong họ trước những câu hỏi nơi sương khói đặt ra. 

Bằng cách đi ấy. Thơ Chu Xuân Giao – Vân Quốc không thể đọc nhanh. Thơ không xới lật, đào tìm những lát cắt làm nên cái “Lạ”, cái bất ngờ ở cái nhìn đa chiều, đa tuyến. Thơ “ít Tả”, mà “Kể”. Nhưng, với nghệ thuật khá “Riêng” ở cái “Kể” của người viết qua tái tạo, sáng tạo. “Cái Kể” với nghệ thuật xâu chuỗi những nét vẽ bên ngoài. Cái Kể qua những gì được “Trạm trổ - Khắc họa khá Rời”, khá cô nén, khá kiệm chắt ngôn từ… Nhưng đem lại “cái Gợi” với một ấn tượng khá khái quát và cũng khá “vọng vang”.    

Với người đọc, không lấy cái “Ngộ” đến nhanh, đến từ trực diện của tai nghe, mắt nhìn, giao cảm. Thơ Chu Xuân Giao - Vân Quốc gửi gắm sự sâu sắc vào một tầng chìm cảm nhận và suy ngẫm. Thơ ít “đứng ra” “lý sự” và triết thuyết. Thơ với những thi ảnh, ngôn thi khi đứng bên nhau, gọi nhau mang một dáng vẻ riêng.  

Thử đọc: “Tàn thu”… “Mưa đã lạnh/ len đêm/ vào giấc ngủ” … “hồ im dần sang tím/ dốc chiều chớp bóng quạ đen.”… “Rồi năm lại sắp qua/ và tuyết sẽ đến trắng sân nhà không mấy nữa/ ai ngóng chờ lần lượt… những thu”…

Hoặc:  “Trước linh cảm lịch sử”: … một đám người đi ngang qua thung lũng trong chiều/ gói tặng tôi những mảnh vỡ tiếng quê trong một chiếc khăn thêu/ họ òa cười rồi/ khóc…

Hoặc: “Trong tiếng khói”: … suy tư luồn thông gió tuôn ra/ ngoài kia khói ngấm xuống/ đất xòe trời trạng nguyên/ đỏ nhuộm/ mùa sắp giáng sinh/ bóng ai/ chạy trên những luống nhà kính loang loáng rắc mưa thưa/ từ chiến trường xa lửa lan/ về cháy lại trong bờ cúc tần/ trên ấy còn mắc một bàn tay ngùn ngụt khói…

Và: … tuyết/ cuối đường hầm thông sang bên kia/ tôi và em loạng choạng vấp bóng mặt trời/ ta vấp nhau/ lịm đi trong căn nhà giấy mỏng tang/ tang (Đồng trinh chữ)…v.v.

Thơ Chu Xuân Giao - Vân Quốc không mang sức quyến rũ ở những gì nơi câu thơ ngọt ngào, mùi mẫn trong yêu đương, hò hẹn, trong dang dở, lỗi lầm, hay, trong những chuyện tình cuồng say, sầu đọng, bi lụy. Hoặc, đấy là sự du dương của vần, của điệu, của những mộng mơ, bay bổng nơi hồn vía thi nhân. 

Càng không phải nơi trụ lại và dẫn về chất trữ tình, ngọt ngào nồng thắm. Không phải lối tư duy nổi loạn. Không phải sự thách đố của cái Lạ, cái tù mù, phá cách…. 

Đọc thơ Chu Xuân Giao – Vân Quốc, người đọc không đặt cược, nhằm vào một cuộc tìm “lượng thông tin” giàu có trước những gì là gương mặt Đời thường, là cái  “Mỏ lộ thiên” – Là “Đề tài” – Một phạm vi cuộc sống mà Nhà văn khai thác. 

Tất cả, và, tựu trung, với Chu Xuân Giao – Vân Quốc, với Thơ, đấy là một dòng chảy ngỡ “Thoáng – Nhẹ” mà “Êm – Xanh”, mà  “Vang”, mà “Chảy dài  -  Loang - Thấm”…

Không gì khác. Ở đấy là Anh, là “Hồn – Anh” - Một tầng chìm mung lung, “Mờ”, vẻ mong manh, mà sáng lên bao cái Gợi, cái Ngẫm suy, cái Tư duy, Liên tưởng. 

Cái ta cậy nhờ vào Hiện thực kia “làm Cớ” mà, giãi bày, chia sẻ “cái Thế giới Nhân sinh” đang đằm sâu trong “Cõi hồn Ta” day trở… 

Chỉ một điều. Dường như, ở hầu hết các bài thơ, Chu Xuân Xuân Giao – Vân Quốc đều đi trong “khoảng Mờ - Chìm” của “cái Kể - Cái Mô tả - Biểu hiện”.

Đấy là “Âm”. Là đáy sâu của Mặt nước. Là “Khoảng tập mờ”… Sẽ cần chăng? Ở cái Kết, ở “Cái Đế” mỗi bài thơ khép lại. Đó là, sự cần, một khoảng sáng của tầng nổi của cái thuộc về “Dương” để cân bằng. Để ánh “Dương” sẽ đậm hơn, nét hơn trong hiệu quả và hiệu ứng đem lại. 

Chu Xuân Giao – Vân Quốc với “Các Nhà văn Nhóm Búp” - với Thơ -  đấy là cái Hay, cái Lạ và cái Riêng của một “Vía hồn Thơ” đi từ “khoảng tập mờ” được sáng lên từ năng lượng khơi nguồn và tỏa rạng. 

Tôi quý yêu “Thi sĩ Họ Chu” -  Một tài danh trẻ trung của Trình Phố - Thái Bình, của đất làng văn hiến, của đội ngũ những người cầm bút trên thi đàn nước Việt của chúng ta.


Ecopark – Văn Giang, tháng Hè, 2026

K.C.     


Các bài viết liên quan:

Những tác phẩm cũ hơn:

Những tác phẩm mới hơn:

 
Mời các Tác giả gửi bài cộng tác cho Ban Biên tập Nhà Búp qua hộp thư email: nhabup.vn@gmail.com
Văn phòng Thường trực Ban Biên tập Nhà Búp: Số 24, Lý Thường Kiệt, Q. Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội;
Ngoài địa chỉ: www.nhabup.vn, bạn có thể truy cập vào website này qua các tên miền quen thuộc: www.nhabup.net hoặc www.nhabup.com
Website đang được thử nghiệm và điều hành phi lợi nhuận, bởi các tình nguyện viên.