
- Thể ký

Bão tố cuộc đời và bài học quý từ ba mẹ
Thứ tư - 18/03/2026 10:46

(Ảnh: Thanh Bình)
BÃO TỐ CUỘC ĐỜI & BÀI HỌC QUÝ TỪ BA MẸ
(Thanh Bình)
SINH RA VÀ LỚN LÊN, CÙNG ĐÓI NGHÈO, VÀO ĐỜI CÙNG NẠN ĐÓI LỊCH SỬ NĂM 1945
Đêm qua mất ngủ, nó đem cuốn hồi ký của Ba Mẹ ra đọc. Cuốn hồi ký gồm 15 trang tư liệu quý hiếm, bao gồm cả trích lục khai sinh từ thời Pháp, và những bức ảnh thời Ba Đẹp Trai, Mẹ Xinh Gái; và hơn 36 trang viết từ năm 2000.
Thời điểm đó, ba không được khỏe, nên nó và các Anh Chị đề xuất tổ chức mừng thọ cho Ba Mẹ. Mẹ kể, Ba viết, Ba Mẹ cùng nhớ lại… cũng coi là hồi ký chung Ba Mẹ. Mỗi câu, mỗi chữ đều thấy thấm thía và tương đến nao lòng.
Ba nó sinh ra trong nheo nhóc, đói nghèo. Ông Nội đi xa, Bà Nội một mình, một túp lều tranh, một mảnh vườn nhỏ với 4 con, hai trai hai gái lau nhau, lít nhít, rau cháo nuôi nhau. Gia đình nghèo trong cái nghèo chung của quê hương đất nước, nên cứ như là wng nhiên con người ta sinh ra phải nghèo thế. Cho đến khi, Ba được đưa lên Hà Nội làm việc ở kho gạo (khu vực gần chợ Đồng Xuân). Ba chưa bao giờ kể vì sao bản thân lại được đi xa như thế. Ba cũng chưa từng kể 15 năm đầu đời đói thế nào, rách thế nào, khổ thế nào, nhất là khi tha hương cách quê nhà hơn 100 cây số. Cái thời xa xôi ấy, khi con người ta chủ yếu đi bộ, lội bộ, chỉ nhà quan mới biết đến cái xe kéo, thì xa nhà hơn 100 cây số, có lẽ là điều vô cùng khủng khiếp nhưng Ba không để lại dòng nào về 15 năm ấy.
Song, Ba nhớ, Ba đã được no. Ba gọi đó là quãng thời gian sung sướng nhất, Ba ví mình như "Chuột nằm trong cong gạo". Trong nạn đói khủng khiếp 1945, cả nước, từ nông thôn đến thành thị, một màu nhờ nhờ, xám xịt, ăn cháo cám, mặc rách rưới hở trước hở sau, cậu bé 15 tuổi, trắng trẻo nhưng gầy guộc, gánh không nổi 10 kg gạo, bỗng dưng được cuốn vào dòng sự kiện cuộc đảo chính kinh hoàng 9/3/1945, ở vào vị trí của người đi cứu đói. Trong hồi ký của mình, Ba từng viết:
"Ngày nay nghĩ lại, tim tôi vẫn đập mạnh. Một tấm thân bé nhỏ, gánh không nổi 10kg gạo, nhưng trong những ngày đảo chính kinh hoàng (9/3/1945), tôi cứ thế, cùng dòng người lớn bé, ào vào, lấy đi hai ba tấn gạo để cứu người. Tôi nhớ, tôi đứng trong gạo, dẫm đạp trên gạo, lẫn vào gạo, mải miết và hồ hởi lôi, vác, cùng ai đó khiêng từng bao gạo tạ xuống, mạnh ai nấy lấy, lấy cho mình và vác ra cho mọi người, chia cho người nghèo đói khát la liệt ngoài kia. Là người đã từng làm thuê ở kho gạo, tôi biết, tôi có thể làm giàu, nhưng tôi cũng biết mình không được phép làm giàu phi nghĩa. Lời thơ La Fontaine luôn là kim chỉ nam cho tôi: Người đời ngay thật là khôn/Gian tham gian lận sao còn được hay."
Mặc dù Ba đã học thêm nghề sơn mài năm 1944, nhưng sau đảo chính 1945, có quá nhiều thứ xảy ra, cậu bé 15 tuổi bỗng dưng trở thành thất học, mất việc làm thuê ở kho gạo. Đói khổ, thất nghiệp, Ba buộc phải bỏ Hà Nội về quê. Mọi hoài bão học vấn tan thành mây khói. Lúc đó, Ba kể, Ba hay tự giễu mình: "Con nhà nho nghèo mơ tưởng hão”.
Về quê, Ba rơi vào cảnh “học không hay, cày không ruộng”, hoang mang, bế tắc. Tuổi 15, Ba phải đi ở cho ông bác họ. Ba chăn trâu, gặt lúa, nằm lều coi đồng, đủ cả. Mỗi khi hồi tưởng lại, Ba thường bảo: “Đó là thời kỳ đen tối nhất: áo rách vá vai, quần vá đũng; cảm nhận được sự đe dọa thực sự của cuộc sống không lối thoát".
Lúc còn sống, đôi khi, Ba kể chuyện cũ, dùng điều đó răn dạy, khích lệ chúng nó: “Các cô khổ thế ăn thua gì”. Chính vì những câu chuyện đó, lời răn đó, mà trước Ba, nó chưa bao giờ than khổ hay bế tắc.
Mẹ nó, nữ Đội viên Mồ Côi và Lớn Lên Cùng Cách Mạng. Mồ côi Cha năm 8 tuổi, mồ côi Mẹ năm 11 tuổi, Mẹ một mình cùng em trai, ở đợ nhà dì, sang nhà bác, qua ngày. Mẹ cũng như Ba, đang lớn lên trong bão táp.
LỰA CHỌN BƯỚC ĐI CÙNG CUỘC CÁCH MẠNG CỦA DÂN TỘC
Tuổi 15, đúng lúc Cách mạng tháng Tám thành công, Mẹ được giác ngộ và gia nhập Hội phụ nữ cứu quốc. Từ một cô thôn nữ côi cút đã trở thành cốt cán phong trào. Năm 18 tuổi (1948), Mẹ gia nhập Đảng Cộng sản, tham gia chống Pháp, trong khi đó Ba tiếp tục nuôi ước mơ học hành.
Năm 19 tuổi (1949), Ba nó - Cậu Tú gần hoàn thành Tú tài thì giặc Pháp tái chiếm Thái Bình. Ba kể: "Bao nhiêu công đèn sách gần 4 năm trời, mài kim chẳng nên kim. Sét đánh ngang tai! Tôi buộc phải vĩnh viễn bỏ học. Từ đó, tôi trở về nghề nông. Nhưng tôi biết, số phận mình không thể nằm yên. Tôi quyết định nhập ngũ, đi theo kháng chiến, ăn cơm nhà, chống giặc. Tôi phải tự khẳng định mình là người của Việt Minh”.
Ba - Cậu Tú 19 tuổi đã đưa ra lựa chọn định mệnh, trở thành Việt Minh như thế. Nhịp đi và cách thức khác nhau, nhưng duyên định mệnh và cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc đã mở lối cho Cô bé mồ côi gặp Cậu Tú theo cách đó – Cách họ cùng đi theo dòng chảy của cuộc kháng chiến, của dân tộc.
Được học hành, Ba là người chữ nghĩa, nên khi tham gia cách mạng, Ba giữ nhiều trọng trách: thông tin tuyên truyền, ủy viên Thanh niên xã, Trưởng ban thuế nông nghiệp thôn. Đêm đêm Cha phải mò vào tận chân đồn bốt thu thuế.
Trong khi đó, Mẹ đã trở thành Nữ Xã Đội Phó với nhiều Trận Đánh Mưu Trí, Dũng Cảm. Nó không tự nghĩ ra, những từ đó là Ba viết về Mẹ trong hồi ký của mình. Năm 1949 khi Ba bắt đầu con đường cách mạng, Mẹ bị thương, trở về địa phương làm Xã Đội Phó phụ trách dân quân du kích và binh vận. Mẹ từng bị bắt, bị tra tấn giã man. Mẹ kể:
"Ngày ấy, cuộc sống là cái lưỡi dao. Tôi bị bắt, bị tra tấn dã man. Có lần chúng ngâm tôi trong bể nước giá rét suốt hai ngày, nhưng tôi không khai. Tôi không chỉ dùng vũ khí, tôi dùng cả mưu trí. Chúng gọi tôi là “cô hàng củi” đi qua cổng đồn, nhưng trong đầu tôi là toàn bộ sơ đồ và quân số của địch."
Nó học văn, đọc sách xem truyện nhiều, quen với những câu chuyện về chị Nguyễn Thị Chiên, Chị Võ Thị Sáu, Chị Tư Hậu, Bà Nguyễn Thị Định… mà cho đến năm 2000, khi Ba Mẹ kỉ niệm tuổi 70 – 71, kỷ niệm hơn 50 năm gắn bó vợ chồng, lần đầu tiên mới được nghe câu chuyện của Mẹ, lần đầu tiên biết Mẹ cũng là một anh hùng. Nó viết nhiều bài văn phát biểu cảm xúc về sự ngưỡng mộ, lòng tự hào nhưng khi nghe Mẹ kể, nó chỉ thấy nghẹn ngào xót thương vô hạn. Rồi mỗi lần từ đó, nhìn mẹ hay sờ tay lên làn da, mái tóc của Mẹ, nó cứ luôn tự hỏi: Mẹ đã làm thế nào vượt qua ngày đông giá lạnh bị ngâm liên tục 2 ngày trong bể nước? Nó là đứa không có tư duy bản đồ, nên càng ngưỡng mộ hơn khi Mẹ nó – Cô hàng củi, không giấy bút, chỉ có thể ghi nhớ sơ đồ bố trí đồn bốt và đong đếm được cả số lính trong đồn. Mẹ ít kể về mình, nhưng Ba lại viết về Mẹ rất kỹ. Nhờ cuốn hồi ký gần 50 trang Ba để lại, nó mới hiểu thêm về Mẹ, hiểu thêm về tình cảm sâu sắc Ba Mẹ dành cho nhau, hiểu vì sao cuộc đời dằng dặc, đủ mọi đau khổ Ba Mẹ vẫn sống chết cùng nhau.
Trong trang viết của Ba, Mẹ là cô thôn nữ tóc dài, xinh đẹp, đậm chất quê và rất có duyên. Có lẽ vì thế mà tên Bốt trưởng Bốt Đống Năm cứ mê mệt đòi lấy Mẹ. Nhờ câu chuyện đó, Mẹ đã lập nên chiến tích lừng lẫy nhất. Mẹ kể:
“Khi tên xếp bốt ngỏ ý cầu hôn, tôi báo cáo ngay với Chi bộ. Họ đồng ý dùng tôi làm mồi nhử. Một đám cưới giả được tiến hành. Ngày tôi mặc áo cô dâu, đi giữa hơn 30 chiến sĩ cải trang thành cụ già đại diện nhà gái, lòng tôi như lửa đốt. Tôi đã thầm yêu anh cán bộ tuyên truyền Việt Minh. Nếu có bất cứ sơ suất nào sảy ra, tôi sẽ không thể trở về cùng đồng đội, tình yêu và hôn nhân cũng sẽ khép lại. Chỉ đến khi, tôi nghe thấy tiếng súng lệnh từ trong đồn bắn ra, và anh em hô lớn “Hàng ngay, hàng thì sống, chống thì chết, tôi biết mình đã chiến thắng. Chúng tôi bắt gọn hơn 30 tên lính không tốn một viên đạn, một giọt máu. Đến lúc đó, tôi mới yên tâm là mình có thể thoát”.
Lần đầu đọc được lời Mẹ kể trong hồi ký, Ba vẫn giấu kín đợi mừng thọ cùng nhau mới hé mở, năm 2000, khi Ba Mẹ nó 70-71 tuổi, nó và các anh chị vô cùng xúc động, ngưỡng mộ. Nó nhớ, nó hỏi Mẹ:
- Nếu lúc đó bị phát hiện thì Mẹ làm sao?
- Thì chết chứ làm sao!
- Chúng sẽ tra tấn, sẽ hành hạ Mẹ…
- Cô này, rõ chán, làm gì có cơ hội mà hành hạ, mình phải thủ tiết chứ, phải có cả phương án tự sát để bảo vệ danh dự và bí mật.
Trong Lễ mừng thọ hôm ấy, nghe Mẹ nói, bất chợt, tiếng vỗ tay đồng loạt vang lên. Ba Mẹ nhìn nhau má đều ửng đỏ. Hôm ấy có Bác Nguyễn Văn Thặng Chủ tịch tỉnh, một người thân, tham dự, Bác bước lên phía trên, trước backdrop, nơi Ba Mẹ đang ngồi bên nhau với trang phục mừng thọ sang trọng như Nhà Vua & Hoàng Hậu, Bác nói:
- Tôi không ngờ mình đang dự mừng thọ của một nữ anh hùng. Chúc mừng Anh, chúc mừng Chị.
- Thế chúng nó giấu Bác à? Tôi là có tên trong ghi chép Lịch sử thành lập và phát triển tỉnh Thái Bình đấy nhé - Mẹ đùa vui dí dỏm.
Khi viết về những kỉ niệm đời mình, nó viết về Mẹ khá nhiều, nhưng đến tận hôm nay, sau giỗ Ba (11.10 Ất Tỵ), nó mới xin phép được cùng cuốn hồi ký Ba viết, kể thêm về Mẹ. Sau trận giả cưới cướp Bốt thành công, mẹ còn tham gia nhiều trận đánh nữa: trận biệt kích Chợ Sú và trận phục kích Độn Thổ. Mẹ bị thương nặng năm ấy, năm 1952. Một mảnh đạn găm phổi mẹ 65 năm, từ 1952 – 2016, tận khi Mẹ chọn hỏa thiêu, mới chịu rời ra nhưng nó và cả nhà vẫn quyết định, để mảnh đạn ấy theo Mẹ.
TRAI TRÍ THỨC – GÁI ANH HÙNG LÁ THƯ TÌNH TRONG KHÓI LỬA VÀ HÔN LỄ TRONG TIẾNG SÚNG CỦA BA MẸ
Ba Mẹ quen nhau trong quá trình hoạt động cách mạng. Cả hai đều cảm mến thầm lặng mà không dám nói ra vì sợ ảnh hưởng công tác. Ba kể:
"Tôi như bị tư duy phong kiến trói buộc, không dám ngỏ lời. Cuối cùng, tôi mạnh dạn cầu hôn bằng một bức thư không ký tên, không đề người nhận, chỉ đề:Gửi người thương đồng đội”. Câu thơ tôi viết chỉ có một lần duy nhất trong đời cho cô ấy, người yêu, người đồng chí, người tôi ngưỡng mộ nhất:
Yêu nhau, yêu cả cuộc đời
Cả khi xuân đến, cả thời xuân qua”
Cả một cuộc tình dài cho đến ngày Ba đi xa hơn 65 năm, mà Ba chỉ viết vỏn vẹn mấy câu. Rồi cũng theo cách đó, Ba kể về đám cưới của mình:
“Hôn lễ diễn ra tối 20/7/1954 (sau Hiệp định Genève) đơn sơ. Đám cưới vừa xong, bốt Sá nghe thấy tiếng cười và ánh đèn, chúng nã đại liên và moóc-chi-ê tới tấp. Bất giác mọi người đều reo lên:Pháo mừng! Pháo mừng!
Cưới nhau xong, chúng tôi sống chung chỉ nửa tháng thì đồn bốt Sá rút chạy, cũng là lúc hoà bình về. Hai thanh niên kháng chiến, hơn 9 năm chỉ lo đánh Bốt, giết giặc, hòa bình, ngoảnh lại, chợt nhận ra cơm không có mà ăn, nhà không có mà ở. Chúng tôi cùng nhau trở về cày cuốc 5 sào ruộng đất quê Đông Quan. Tuy nghèo, nhưng chúng tôi có nhau, có bình an, và một niềm tin vô bờ bến vào tương lai".
VỢ CHỒNG CÙNG NHAU VÀO CUỘC CHIẾN MỚI
CHỐNG MỸ VÀ VƯỢT QUA CƠN LỐC BAO CẤP (1960 - 1975)
Sau hòa bình, Ba Mẹ cùng mọi người bước vào công cuộc tái thiết đất nước; cùng nhau đi qua thêm một cuộc kháng chiến nữa: Kháng chiến chống Mỹ.
Ba chuyển sang công tác Văn phòng, làm Kế toán trưởng, Phó Ban tiếp liệu... Từ Cậu Tú chỉ quen học hành, đi theo Việt Minh làm anh tuyên truyền viên, chỉ quen dùng chữ, giờ đây, đứng trước cuộc sống mới, nhiệm vụ mới, cuộc chiến này khó khăn không kém:
"Tôi dám khẳng định: Thương trường còn khó hơn cả chiến trường. Sự keo sơn đồng đội đâu còn như trước. Là người luôn đấu tranh chống tham lam, vụ lợi, tôi bị đưa vào “tuyến hỏa lực nguy hiểm”. Tôi bị trù dập, bị cô lập. Tôi từng muốn xin về mất sức, nhưng cô ấy – người yêu, người đồng đội, người vợ hiền đảm đang của tôi, luôn an ủi, động viên. Tôi đã sống, lăn lóc và gan góc với cuộc chiến mới này hơn 30 năm. Nhưng cho đến ngày nghỉ hưu, tôi vẫn thấy như mình vừa tốt nghiệp trường Đại học cuộc đời gian khó nhất. Và, dù không có cơ hội để đem “tấm bằng tốt nghiệp” ấy áp dụng vào cuộc sống, tôi vẫn thấy vô cùng nhẹ nhõm, sảng khoái. Mọi người đều sợ nghèo, sợ không còn lương nên sợ hưu. Tôi cũng nghèo, cũng không còn nhiều lương như lúc đương chức nhưng, lần đầu tiên, kể từ 1945- 1986, hơn 55 năm từ thuở 15 đến lúc nghỉ hưu, tôi cảm thấy nhẹ nhõm và an vui thực sự”.
Bây giờ thì nó biết nó và các anh chị em giống Ba nhiều hơn thế, không chỉ là hình hài Ba cho, mà cả tính cách nữa: sự đàng hoàng, khái tính và khảnh tính nữa. Khi Ba nghỉ hưu nó đã trưởng thành nên nó biết Ba hài lòng và an yên thế nào bên bàn trà và cái điếu thuốc lào quen thuộc.
Đây là thời kỳ gian khổ nhất của Mẹ. Từ cô bé mồ côi, thủa nhỏ ở đợ làm thuê, lớn lên theo cách mạng làm người nữ du kích mưu trí, anh hung, nhưng chưa từng được học hành đến nơi đến chốn, lại mang theo vết thương chí mạng, Mẹ được tổ chức phân công công việc hành chính ở Sở Bưu điện Tỉnh, làm ở đó cho đến khi nghỉ hưu. Với mức lương ít ỏi, Ba Mẹ nuôi 9 người con, miệng ăn, núi lở, nhiều năm tháng trong cảnh sơ tán, bom đạn nữa.
"Mỗi tuần đều có một ngày Chủ Nhọc của riêng tôi. Tôi đi xe đạp rong ruổi khắp nơi, lo đủ thực phẩm, cho các con đa là quá sức. Những năm chống Mỹ, chồng công tác xa, tôi một mình, lúc hông có xe đạp thì gánh con, gánh đồ, khi có xe thì thồ con, chở đồ đi sơ tán, gửi gắm hai quê, bốn họ, tùy theo. Tôi phải tính toán nhanh nhạy, có lẽ còn hơn cả máy vi tính bây giờ. Tôi làm việc 12, 16, 18 giờ, không hiếm những ngày 24h làm việc mệt nhoài, vết thương cũ tái phát tức nghẹn, khó thở”
“Khi cả cơ quan nghỉ trưa, tôi phóng xe về tắm giặt cho con. Những đứa lớn đi học được có thể tự tắm. Mấy đứa bé lóc nhóc ở truồng nhốt cũi nhầy nhụa với nước tiểu và phân, tôi luôn phải tắm rửa cho con, đánh rửa cũi mỗi trưa hoặc khi chiều về để hôm sau lại sử dụng được. Tôi thường làm sớm. Lúc chồng về, mọi thứ đều sạch sẽ, ngăn nắp. Đêm khuya, khi các con đi ngủ, tôi thức canh gánh nước”.
“Mọi người ở Sở động viên tôi: cố gắng lập nhiều thành tích, nhưng tôi chỉ mong một điều duy nhất:sống sót trong bom đạn để trở về thị xã vẹn toàn chồng vợ, mẹ con không kẻ mất người còn và để không bao giờ vắng mặt trong giờ làm việc”.
Ba Mẹ đã trải qua thăng trầm như thế, nhưng phải đến tận cuối đời mừng thọ 70 tuổi Ba mới ghi hồi ký để lại. Nó và các anh chị em cứ nghiễm nhiên được ăn, được ngủ, được chơi, được học hành và…quậy phá, không phải 1 mà tận 9 đứa, suốt dọc cuộc đời Ba Mẹ. Khi “nuôi con để biết lòng cha mẹ” thì chẳng có thời gian gần Ba Mẹ. Và còn bao nhiêu chuyện buồn khổ của 9 nhà nhỏ dồn về óc Ba, tim Mẹ nữa. Ba đi trước Mẹ gần 20 năm, 20 mươi năm ấy, Mẹ tiếp tục là con tim, khối óc và sức mạnh cho cả gia đình.
HƯỞNG THỌ VÀ DI SẢN CỦA ĐỨC ĐỘ (SAU 1997)
Nghỉ hưu, Ba dành thời gian đi thăm lại Hà Nội, đi lại những nơi Ba đã từng lang thang kiếm sống. Ba cũng đầu tư tâm trí vào việc viết sử phả cho dòng họ và Hồi ký này. Ba viết:
“Đời người như viên đạn bắn qua cửa sổ, rất nhanh, nếu không tranh thủ làm việc gì có ích cho hậu duệ thì không kịp. Tôi viết gia phả, hồi ký, không phải vì tiền của hay danh vọng, vì tiền của vàng bạc cũng không thể nào mua nổi những điển tích của ông cha. Tôi muốn con cháu hiểu được: “Có khó mới có sang”, “Có khổ thân mới thành thân".
Mẹ vẫn thế, lại tiếp tục đồng hành cùng Ba làm dâu thảo họ Đào. Mẹ luôn giữ tinh thần minh mẫn và sự phúc hậu. Cuộc đời Mẹ rồi cuộc đời các con, mỗi đời đều có cách thử thách riêng với người trong cuộc, Mẹ bảo:
"Mẹ luôn nhớ chữ Nhẫn.
Ở đời chữ nhẫn đó ai ơi
Nhẫn một câu, kìa, được chín rồi”
Mẹ cũng nhắc:
“Điều quan trọng nhất là phải có tình thân, làm việc thiện và giữ tâm kinh, tâm đức. Phận làm con là phải đem lại niềm vui tinh thần cho cha mẹ, còn hơn cả nuôi dưỡng vật chất. Mẹ không đánh con nào một roi đòn. Mẹ là chính trị viên trong tổ ấm này".
Nó nhớ Mẹ nhẫn nại nghe Ba nói cả buổi, nhân nhục vay công mượn nợ đắp đổi một đời nuôi các con.
Nó nhớ cách mẹ dành ngồi bên nồi ới cơm cho cả nhà mà luôn quên bát mình không xới. Nhớ Mẹ giấu các con, đưa ngang cửa sổ đĩa bánh cuốn nóng, chỉ mình chị dâu mang bầu được hưởng, nhớ Mẹ nhìn theo bóng các con, con gái, con trai, con rể, ào về, ào đi, để lại khay ấm chén bữa nào cũng hơn chục cái lỏng chỏng, đôi khi mẹ cố rót đầy lượt nưa, nài thêm, mà các con vội vã không kịp dùng, nhớ mớ rau tươi, dăm củ su hào, mẹ buộc từng túi, từng túi làm quà cho các con đi xa, nhớ chục bánh rán, đôi chục bánh nướng quê, đôi khi là lọ kẹo dồi… của Mẹ. Nhớ lắm dáng Mẹ ngồi mép giường, mắt trông theo mỗi lần tạm biệt.
Nó luôn tự dặn mình, theo Mẹ, nhưng rèn mãi chưa xong chữ “nhẫn”, học mãi chưa trọn chữ “thương”, bây giờ, lại đang rút kinh nghiệm đời Mẹ đèo bòng vất vả, gắng học buông tay mà không buông được.
Ất Tỵ năm nay, nó tròn 5 hoa giáp, nửa đời leo dốc, nay đã sang nửa đỉnh bên này, từ từ, thảnh thơi… càng thương Ba, thương Mẹ nhiều hơn.
Nó vẫn muốn thêm một lần nữa gửi lại link bài hát Tháng mười thương nhớ nó viết tặng Ba Mẹ, nhờ AI Suno hát.



