
- Trang văn

Bố Dũng
Thứ bảy - 18/04/2026 09:52

(Ảnh: Pixabay)
BỐ DŨNG
Tôi đã định viết về bố từ lâu nhưng cứ lần lữa mãi.
Bố là thầy giáo Nguyễn Văn Vũ Dũng. Tôi được học thầy năm tôi học lớp 5. Nhóm chúng tôi có 12 đứa được chọn từ các trường khác nhau trong huyện. Khi đó, huyện chưa lập trường chuyên, chỉ có hai nhóm năng khiếu văn và toán. Lớp văn chúng tôi được đặt ở xã Quỳnh Hội.
Buổi đầu gặp thầy, thú thực chúng tôi không ấn tượng lắm. Thầy không còn trẻ (năm đó thầy 36 tuổi), làn da ngăm, hàm răng ám khói thuốc, quần áo giản dị, đội mũ lá. Nhưng rồi chúng tôi nhanh chóng bị lôi cuốn theo giọng giảng bài sang sảng ấm áp đầy nhiệt huyết của thầy. Buổi sáng chúng tôi học chương trình bình thường ghép với một lớp trong trường. Buổi chiều chúng tôi học bồi dưỡng môn Văn trong một gian nhà kho cũ. Chẳng mấy chốc, thầy trò đã gần gũi thân thiết. Thầy mượn sách truyện thiếu nhi cho chúng tôi đọc. Thầy sửa bài của chúng tôi rất kỹ từng từ từng câu, có bài thầy viết câu cần sửa kín cả lề giấy. Nhìn những “tác phẩm” chi chít chữ đỏ tôi nghĩ chắc thầy phải thức khuya lắm. Thầy không viết mẫu mà thường gợi ý cho chúng tôi cảm nhận rồi nêu ý kiến của mình. Chúng tôi tranh luận với nhau, tranh luận với thầy về cách viết câu, dùng từ… giờ học rất sôi nổi thoải mái. Có lần một bạn bảo câu “Tây kia mình đã thắng Mỹ này ta chẳng thua” trong bài “Mẹ Suốt” của Tố Hữu không phải là thơ lục bát. Tôi cãi vẫn là thơ lục bát, chỉ nhỡ một câu thôi. Bạn kia phản bác “Lục là sáu, bát là tám, sao lại nhỡ được”. Thầy nghe thấy liền nói: ” Đó là lục bát biến thể“. Rồi thầy nêu vài ví dụ như câu: “Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo/Ngũ lục sông cũng lội thập cửu đèo cũng qua” có nhiều tiếng hơn lục bát thông thường. Hoặc câu “Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” tiếng thứ hai là thanh trắc. Hoặc bài thơ về hoa sen, câu “Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng” không hiệp vần với câu kế tiếp “Nhị vàng bông trắng lá xanh”. Ừ nhỉ, bây giờ tôi mới để ý thấy điều đó. Chỉ một câu của thầy đã giải quyết cuộc tranh luận và chúng tôi được mở rộng tầm mắt.
Buổi tối sáng trăng, thầy chỉ bóng lá đa in trên mặt đất và hỏi: “Các con thấy giống cái gì?”. Tôi lơ đãng không suy nghĩ. Hôm sau có bạn viết “ánh trăng in trên mặt đất như một mảnh vải hoa” thầy khen câu văn hay. Sau đó thầy gặp riêng tôi nhắc nhở :”Con thấy không, bạn chú ý và chịu khó suy nghĩ nên lúc này bạn viết lên tay hơn“. Tôi nghĩ bụng: “Mới có một bài mà ăn thua gì” và vẫn chưa chịu sửa mình.
Một hôm thầy giao bài về nhà làm, tôi mải chơi quên mất. Hôm sau thầy gọi từng người đọc bài của mình để cả lớp nhận xét. Tới lượt mình, tôi run rẩy đứng lên. Thầy hỏi:
- Bài em đâu ?
Tôi lúng túng chống chế:
- Em chuẩn bị trong đầu ạ.
- Được rồi, em đọc đi.
Tôi đọc được một câu rồi ngắc ngứ đứng im. Thầy lắc đầu nghiêm nghị:
- Em tự nhận mình mắc mấy lỗi?
Tôi cúi đầu lí nhí:
- Dạ không làm bài và nói dối ạ.
- Thôi được rồi, em ngồi xuống đi, tối nay làm rồi sáng mai nộp cho thầy.
Ngoài giờ học, thầy trò có rất nhiều thời gian rảnh rỗi bên nhau vì đều ở trọ. Những lúc đó thầy thường kể chuyện cho chúng tôi nghe, dẫn chúng tôi ra đồng chơi. Chúng tôi cũng thường tới phòng thầy chơi. Bác chủ nhà rất quý thầy để mặc chúng tôi nô đùa thỏa thích. Trên bàn làm việc của thầy có đặt một bức tượng vũ nữ ba lê nhỏ. Không biết đứa nào nghịch ngợm khoét vào ngực bức tượng một lỗ. Thầy giận và “truy tìm thủ phạm” nhưng không đứa nào nhận. Thầy giảng giải cho chúng tôi về vẻ đẹp hình thể của con người, đó không phải là thô tục mà là nghệ thuật. Chúng tôi ngồi im, “thủ phạm” chắc là hối hận lắm. Lần khác, có đứa phát hiện trong cặp của thầy có cuốn “Tố Tâm “ của Hoàng Ngọc Phách (lúc đó còn bị gọi là”sách cấm”). Chúng tôi lấy trộm về đọc. Dĩ nhiên là thầy biết. Thầy bảo: ”Lứa tuổi các em chưa nên đọc cuốn này. Thực ra nó không phải là “dâm thư” như người ta hiểu lầm. Có điều đây là chuyện viết về người lớn, các em chưa hiểu hết được”. Nhìn thấy vẻ mặt “không phục” của mấy đứa tôi, thầy nói tiếp “Thì các em cũng đọc rồi, các em có thấy chuyện gì dung tục bậy bạ không”. Không trả lời được, lúc đó chúng tôi mới chịu phục. Ngoài lớp, thầy thường gọi chúng tôi bằng con xưng bố, riêng tôi và Mùi được thầy gọi là “con gái rượu”. Tôi hơi buồn khi thầy thường ôm Mùi âu yếm nói “con gái rượu của bố” trong khi tôi đứng ngay cạnh đó. Sau này tôi hiểu thầy giữ ý vì Mùi gầy tong teo còn tôi đã phổng phao.
Một hôm có đứa thì thầm về bài thơ của thầy nó đọc trộm được. Với những thứ độc lạ thì bọn ma quỷ chúng tôi nhập tâm ngay. Chỉ sau một lúc rỉ tai nhau, vài đứa đã nghêu ngao “Ta cố quên đi sợi dây thừng/ Và chai thuốc độc giữa quê hương /Người mong ta chết ta không chết…” . Bất ngờ thầy đi đâu về nghe được, chúng tôi chết lặng vì sợ hãi, tôi nghĩ phen này chắc tội nặng lắm đây và chờ sấm sét giáng xuống đầu. Nhưng thầy chỉ sững sờ một lát, mặt thầy đỏ bừng rồi tái lại, vai rũ xuống, thầy không nhìn chúng tôi chậm rãi đi vào. Chúng tôi hiểu rằng mình đã chạm tới nỗi đau trong lòng thầy. Hôn nhân của thầy đổ vỡ mà chưa có con, năm đó thầy đã 36 tuổi vẫn chưa ổn định. Thầy không la mắng nên chúng tôi quên ngay. Mấy hôm sau mấy đứa bạn lại thì thầm về bài thơ lục được trong cặp của thầy (lại lục lọi), trong đó có câu “Lòng này còn lắm xót đau /Mà em cười cợt càng rầu như dưa…”. Lần này thì không đứa nào cười nữa. Nhưng nỗi buồn thương ân hận của trẻ con cũng mau tan như mưa bóng mây, chúng tôi lại ríu rít bên thầy. Thầy có cây đàn guitar, lúc rảnh thầy dạy chúng tôi nhạc lý cơ bản: khuông nhạc, nốt nhạc, khóa son…Thầy dạy và đệm đàn cho chúng tôi hát bài “Trái đất này là của chúng mình “ và cả “Nhạc rừng”,”Tiểu đoàn 307”... Với một con bé nhà quê như tôi thì tiếng đàn của thầy là điều gì đó cao xa , kỳ diệu. Trong nhóm có bạn Phương hát hay, thầy thường đệm đàn cho bạn hát và tập cho bạn ngâm một đoạn trong truyện Kiều biểu diễn trong lễ tổng kết.
Chúng tôi lên lớp 6 thầy vẫn tiếp tục phụ trách nhưng lớp chuyển sang xã An Ấp. Chiến tranh biên giới phía bắc nổ ra, không khí hừng hực lan tới tận ngõ ngách của làng quê. Có lệnh tổng động viên. Một hôm chúng tôi vừa vỗ tay vừa hào hứng đồng thanh hát “Tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới, gọi toàn dân ta vào cuộc chiến đấu mới…”. Thầy nói bằng giọng buồn buồn”Đây không phải là một bài hát vui… “, cho đến khi theo cha mẹ đi dự lễ truy điệu của một anh trong xóm tôi mới hiểu vì sao thầy nói vậy.
Một hôm thầy lấy xe đạp chở tôi lên sân vận động huyện dự lễ tiễn tân binh lên đường. Rất nhiều anh lính trẻ xếp hàng nghiêm chỉnh, người đưa tiễn chật kín cả sân và hai bên đường. Khi xe chuyển bánh, các chiến sĩ nhoài người vẫy tay tạm biệt, các mẹ các chị vừa vẫy tay vừa hét với theo “Chân cứng đá mềm nhé con”. Thầy chỉ cho tôi thấy một người mẹ trẻ bế đứng con lên, nắm bàn tay đứa bé vẫy theo hướng chồng đi, nước mắt lưng tròng miệng lại mỉm cười. Tôi ngây ngô hỏi thầy:
- Sao cô ấy lại vừa khóc vừa cười thế ạ?
Thầy hỏi lại tôi bằng giọng trầm hơn:
- Chồng ra chiến trường thì cô ấy sẽ thế nào?
- Sẽ nhớ ạ.
- Thương và lo lắng nữa, nếu cô ấy khóc to thì sao?
- Mọi người sẽ chê cười ạ.
- Không ai chê cười đâu con. Cô ấy nén lòng cố mỉm cười để chú yên tâm lên đường và cũng để con nhỏ không sợ hãi.
Trên đường về thầy hỏi tôi:
- Tết thì con thích gì?
- Được mừng tuổi ạ.
- Gì nữa?
- Được mua áo mới ạ.
Thầy gật gật đầu. Đi qua một cái quán ven đường, thầy mua cho tôi một phong kẹo lạc. Suốt dọc đường về thầy không nói gì, còn tôi vui thích nhấm nháp phong kẹo cũng không để ý. Hôm sau tôi mới biết lúc đó thầy đã nảy ra bài thơ “Áo mới”. Giờ ra chơi, thầy gọi tôi đưa bài thơ và nói “có công của con nữa đấy”, tôi sướng phổng mũi dù biết mình chẳng có chút công sức gì. Đến bây giờ tôi vẫn thuộc lòng bài thơ, trong đó có đoạn :
Biên cương quê ta
Bao em cùng tuổi
Cũng mơ áo mới
Kẻ thù phanh thây…
Hôm ấy giờ sinh vật, cô cho lớp thực hành mổ cua. Cũng là tiết cuối nên cô gom cua lại cho mấy đứa ở tập thể nấu canh cải thiện. Dọn cơm lên, chúng tôi đang xúm vào định ăn thì thầy bảo: - Mấy đứa múc cho cô một bát canh chứ! (Cô cũng ở tập thể). Chúng tôi lại được một bài học về cư xử.
Có lần thầy tới nhà tôi chơi (cách nhà thầy khoảng 5-6 cây số). Bố tôi nói chuyện với thầy rất vui vẻ, giữ thầy ở lại dùng cơm nhưng thầy nhất định từ chối.
Thi xong, chúng tôi bịn rịn chia tay nhau, chia tay thầy. Sau đó, tôi được giải, gặp thầy trong lễ trao thưởng, bố tôi rối rít cảm ơn thầy. Thầy hết sức phấn khởi, thấy ai quen cũng níu lại khoe “Học sinh của tôi, con gái tôi đạt giải đấy”. Năm lớp bảy, nhóm tôi do cô mới phụ trách, từ đó tôi ít gặp thầy.
Học hết phổ thông, tôi vào Nam học sư phạm rồi lập gia đình. Cuộc sống xa quê với bao bộn bề lo toan cuốn tôi đi. Một hôm tôi nhận được thư của cô bạn ở quê trong đó có lá thư của thầy. Qua bao thay đổi, giờ đây thầy dạy cùng trường với bạn tôi. Tôi mừng rỡ hồi âm cho thầy ngay. Từ đó, tôi thường xuyên liên lạc với thầy. Thầy đã tái hôn, có một trai một gái, hai em đều ngoan ngoãn giỏi giang, cuộc sống khá viên mãn. Có lần về quê, tôi cùng chồng con tới thăm thầy. Thầy đã nghỉ hưu, tóc bạc hết nhưng giọng nói tiếng cười vẫn hào sảng như xưa. Thầy rất phấn khởi tặng tôi tập thơ “Trăng chiều” in chung với mấy tác giả khác. Con gái thầy “tố cáo”: ”Gặp ai cũng khoe chị ạ”. Tôi nói đùa:
- Cái này in ra thì tốn tiền chứ không có nhuận bút đâu hả bố.
Cả nhà cười vui vẻ, tôi rưng rưng nhớ trước đây mỗi khi thơ thầy được đăng báo có nhuận bút thầy lại mua kẹo cho chúng tôi ăn, thầy trò vui tưng bừng.
Thầy kể chuyện về các học trò lớp chuyên văn những năm sau lứa chúng tôi. Có một em tên Đua học rất giỏi, bố Đua nói với thầy: “Nó quý thầy, thầy quý nó, thôi tôi cho nó làm con gái thầy đấy”. Đua nhờ thầy đổi tên giúp. Thầy nói: “Em nhà thầy tên Cẩm Nhung vậy thầy đặt tên con là Hồng Nhung nhé“. Sau này, Nhung làm nhà báo, có lần em cùng một người bạn đạt giải thưởng hai mươi triệu, liên hoan hết bốn triệu còn mười sáu triệu chia đôi. Nhung tới thăm và tặng thầy tám triệu, thầy không nhận. Nhung nói: “Có bố con mới có giải thưởng này, giải thưởng này là của bố“. Giằng co mãi cuối cùng hai thầy trò chia đôi em mới chịu. Lần sau cũng đạt giải, Nhung mua tặng thầy một hộp sâm. Mỗi lần trường cũ tổ chức họp mặt đều mời thầy, gặp lại thầy, đồng nghiệp và học trò ai cũng tay bắt mặt mừng. Học trò của thầy, nhiều người thành đạt và rất yêu kính thầy.
Năm nay thầy đã gần chín mươi, vẫn rất minh mẫn và còn làm thơ, những vần thơ của thầy chan chứa ân tình với học trò, với cuộc đời. Con mong thầy giữ mãi phong độ đó để con còn được hàn huyên tâm sự với thầy về một thời không thể nào quên.
Bùi Ngọ



