
- Góc chia sẻ

Đắp nấm giồng chanh
Thứ sáu - 23/10/2026 15:08

(Ảnh: Pixabay)
ĐẮP NẤM GIỒNG CHANH
(Tuấn Khanh)
Đây là một câu ca cổ hàm chứa rất nhiều điều thú vị cần được làm rõ, nhược bằng không có thể dẫn tới hiểu sai hiểu lầm đáng tiếc làm mất đi giá trị văn hóa của một áng cổ ca:
Vào vườn đắp nấm trồng chanh
Chả được ăn quả chiết cành cho cam
Xin đừng ra dạ bắc nam
Nhất nhật bất kiến như tam thu hề
Huống tam thu nhi bất kiến hề
Mong chừng người ấy đi về với tôi
Quế sánh với hồi
Cho người thục nữ sánh người trượng phu
Dưới võng trên dù
Cho đẹp lòng thiếp không phu lòng chàng
Thiếp chúc chàng Phú – Quý – Thọ - Khang.
Những tình yêu đẹp là những tình yêu dang dở. Người quan họ xưa đã dùng ý nghĩa ẩn dụ của câu ca dao "Công anh đắp nấm trồng chanh / Chẳng được ăn quả vin cành cho cam" để diễn tả nỗi lòng của một người dày công vun đắp, theo đuổi một mối tình, nhưng đã lâu mà vẫn chưa có được kết quả gì, chưa gây dựng được tình cảm gì. Ở đây các nghệ nhân dùng chữ “chanh” và chữ “cam”, là những loài cây lấy quả thân thuộc trong vườn nhà quê xưa, ý chừng là ước mong chân thành, thật lòng. "Ra dạ bắc nam" là chỉ sự sinh lòng đổi dạ, không nhất quán, hoặc sự chia phôi đôi ngả. “Xin đừng ra dạ Bắc Nam” là lời khẩn cầu người kia hãy giữ lòng thủy chung, son sắt, đừng thay lòng đổi dạ.
"Nhất nhật bất kiến như tam thu hề" - đây là một điển tích trong Kinh Thi có hàm nghĩa là “Một ngày không gặp mặt dài tựa ba mùa thu” Câu thơ diễn tả sự tương tư da diết. Khi xa cách thì thời gian trôi qua vô cùng chậm chạp. "Huống tam thu nhi bất kiến hề” – huống chi là đã ba năm nay chưa được giáp gặp mặt nhau rồi. Trong bản gốc của Kinh Thi thì câu tiếp sẽ là “Huống tam thu nhi bất kiến hề / Đường kia nỗi nọ như chia mối sầu", nhưng người quan họ xưa lại thay bằng câu “Mong chừng người ấy đi về với tôi" để nói lên sự nhớ mong mòn mỏi và mong ước sao cho người kia sớm ngày quay trở lại với mình.
Câu tiếp là "Song song quế sánh với hồi / Cho người thục nữ sánh người trượng phu". Trong cổ văn xưa, "Quế" và "Hồi" là hai loại thảo dược, gia vị quý hiếm, luôn đi đôi với nhau để tạo nên hương vị hòa quyện, tôn nhau lên. Câu thơ mượn hình ảnh này để chỉ sự xứng lứa vừa đôi, ca ngợi phẩm chất cao đẹp của hai người khi đến với nhau (người thục nữ sánh cùng người trượng phu - ý chỉ sự tương xứng về tài sắc và danh giá).
"Dưới võng trên dù cho đẹp lòng thiếp không phu lòng chàng": "Võng" và "Dù" (lọng) là biểu tượng của sự vinh hoa phú quý, đám cưới danh giá ngày xưa (rước dâu bằng võng cáng, che dù lọng). Câu này thể hiện ước mơ về một cái kết viên mãn: hai người lấy được nhau trong sự chúc phúc, vẻ vang, làm "đẹp lòng thiếp" và không “phụ lòng chàng”. Chính nghĩa ra thì là “không phụ”, nhưng trong câu ca thì các cụ toàn ca thành “kẻo phu”, chắc là để cho nó vần văn mà thôi.
“Thiếp chúc chàng PHÚ QUÝ THỌ KHANG” - Người xưa hay chúc nhau Phú - Quý - Thọ - Khang - Ninh (Giàu có, sang trọng, sống lâu, khỏe mạnh và bình yên). Nhưng trong câu ca thì giai điệu không cho phép kể nốt chữ “Ninh”. Nhưng mà như thế cũng là vẹn toàn lắm rồi. Còn gì hơn bằng môn đăng hộ đối, lại còn phú quý thọ khang nữa? Chính vì bốn chữ sang trọng này, mà câu ca này thường được người xưa ca trong các dịp chúc đám cưới hay mừng xuân mới. Ngặt nỗi là câu này ca cũng hơi khó nên ngày nay không còn được phổ biến rộng.



