
- Góc chia sẻ

Chuông vàng treo cửa tam quan
Thứ sáu - 12/06/2026 18:21

(Ảnh: Trần Bảo Toàn)
CHUÔNG VÀNG TREO CỬA TAM QUAN
(Tuấn Khanh)
Năm xưa, Ông Ba Thà và Ông Son Làng Chọi có để lại một câu ca như thế này:
Chuông vàng treo cửa tam quan
Lầu hồng còn đợi người ngoan chơi bời
Câu thơ Nôm có bốn chữ bài
Bề trong phương thảo bề ngoài thơ ngâm
Xem trong thơ thưởng lục hà trì
Xuân thu đài các đông thì ca ngâm
Nước cờ kia người tính còn nhầm
Toan lên cản tượng lại cầm tốt ba
Ván cờ kia khéo tính cũng hoà
Câu này chính là câu đối chính với câu Tiên Sa Xuống Cõi Trần Chơi của làng Diềm. Ở đây, các cụ lấy “Chuông vàng treo cửa tam quan” để đối với “Gạch vàng lát cửa thiền môn”, thiệt là chuẩn không thể chỉnh được gì nữa. Ước lệ thế thôi, chứ có ai đúc gạch bằng vàng rồi đem lát cửa chùa bao giờ đâu.
Từ câu 3 đến câu sáu, thực ra là lời vịnh của Bài thơ "Tứ Thời Nhàn Du" gồm bốn câu thơ chữ Hán nổi tiếng thường được đề trên các bộ tranh Tứ bình Xuân - Hạ - Thu – Đông mà ta thường thấy ngày nay:
春遊芳草地 (Xuân du phương thảo địa)
夏賞綠荷池 (Hạ thưởng lục hà trì)
秋飲黃花酒 (Thu ẩm hoàng hoa tửu)
冬吟白雪詩 (Đông ngâm bạch tuyết thi)
Dịch nghĩa: Mùa xuân dạo chơi nơi đồng cỏ thơm, mùa hè ngắm đầm sen xanh, mùa thu uống rượu hoa cúc, mùa đông ngâm vần thơ tuyết trắng.
Ở đây, chúng ta chú ý đến chữ “vịnh” có nghĩa là làm thơ tán ý của một bài thơ nào đó. “Vịnh” khác với “ngâm” ở chỗ “ngâm” là ngâm nga lời thơ nguyên bản theo một giai điệu nào đó. Trong câu cổ ca này, người xưa chỉ dùng lời vịnh của Tứ Thời Nhàn Du, còn lời thơ nguyên văn thì đương nhiên đã là dân chơi Kinh Bắc ai cũng phải biết. Một điểm đáng chú ý nữa là chữ “thì” trong đoạn “đông thì ca ngâm”. Chữ “thì” ở đây phải được hiểu là chữ “thời”, tức là thời gian mùa đông. Người xưa dùng chữ “thì” để cho vần thơ mà thôi.
Ba câu thơ còn lại lại nói đến một thú vui khác của người xưa, đó là chơi cờ:
Nước cờ kia người tính còn nhầm
Toan lên cản tượng lại cầm tốt ba
Ván cờ kia khéo tính cũng hòa
Một nước cờ là một bước đi đơn lẻ, có thể không làm sụp đổ thế trận ngay tức thì, nhưng những tính toán sai lầm tưởng như vô hại ấy lại từng bước đẩy thế cục vào nước cùng, may ra thì hòa, còn thua thì gần như chắc chắn.
Trong Tiên Sa Xuống Cõi Trần Chơi, Làng Diềm ca đến đàn (cầm) và đánh cờ (kỳ):
Gạch vàng lát cửa điện môn
Biết đâu chốn ấy người khôn lánh mình
Đàn kia ai gảy tính tình
Bốn dây tơ nhỏ tựa hình mưa sa
Cờ ai khéo giục tốt ba
Xe liền pháo cách mã đà sang sông
Chơi cho thỏa chí tang bồng
thì Làng Chọi cũng ca đến câu thơ Nôm (thi) và nước cờ, ván cờ (kỳ). Vì Cầm-Kỳ-Thi-Họa là bốn thú vui tao nhã của bậc văn nhân Kinh Bắc xưa mà ngày nay đã dần mai một theo thời gian. Ở Bắc Ninh, nhiều nơi người ta vẫn treo tranh tứ thời Xuân - Hạ - Thu – Đông, nhưng bài thơ Tứ Thời Nhàn Du hay là câu vịnh bốn mùa của các nghệ nhân quan họ chắc còn ít người biết đến.
Có học mới biết là các cụ nhà ta xưa chơi thế mới là biết chơi, sống thế mới là biết sống. Cổ nhân biết lấy cầm kỳ thi họa làm vui, cho nên tứ thời bát tiết mùa nào cũng thong dong, nhàn nhã, vui tươi, sống hòa mình cùng thiên nhiên, trời đất, ấy chính là Trường Thọ Muôn Niên.
Sức sống của một bài thơ chữ Hán học đường đã hòa mình vào đời sống văn hóa của người Kinh Bắc và vẫn còn tươi mới cho đến ngày nay:
"Mùa xuân đi dạo cỏ xanh rì,
Mùa hạ dạo chơi tới cạnh trì.
Mùa thu rót rượu bông vàng nhắp,
Mùa đông ngâm vịnh tuyết đông phi."



